Chương 40
May sao gặp được ân nhân Là nhờ dư phúc nương thân đó mà Âm công vun lấy phúc nhà Hết lòng cứu giúp người ta khi nghèo Anh gian, cậu ác chớ theo Nhãng tình máu mủ, chỉ yêu bạc tiền Có trời báo ứng ở trên!(*) Phương Ngọc bước vào, nhìn thấy một bóng dáng màu hồng nhạt đang đứng bên cửa sổ, lòng thoạt tiên trùng xuống. Chân hắn vẫn còn do dự, cứ đứng mãi ở cửa ra vào, tiến thoái lưỡng nan, nhưng Họa Câu lại quay người trước rồi cúi mình hành lễ với hắn. Chưa đợi Phương Ngọc mở miệng nói gì, Hoạ Câu đã lấy ra một đôi bảo hộ đầu gối và một chiếc bình hồ lô mạ vàng ra, cười cười, nhét vào tay Phương Ngọc. Cũng không để Phương Ngọc mở lời từ chối, Họa Câu đã nói: — Phương công công, ngài cứ nghe nô tỳ nói đã. Lần ấy, ở điện Hàm Nguyên, nhờ có ngài xả thân cứu giúp mà nương nương mới được bình an vô sự, bằng không thì thật là không thể dám tưởng tượng. Mà thực ra đâu chỉ riêng lần ấy, trước đây cũng mấy lần rồi, đều nhờ ngài có lời trước Ngự tiền thì cũng mới có thể xoay chuyển tình thế, có ngài thì nương nương và cũng như những người khác nữa, mới tránh được đại hoạ. Nương nương tuy kiệm lời, hiếm khi nói ra, nhưng trong vẫn luôn ghi tạc công lao của Phương công công ở trong lòng. Nương nương nghe nói gần đây công công bị thương ở đầu gối, rất là đau, cho nên đã tự tay thêu đôi đệm vải này, lại sai nô tỳ đặc biệt mang đến cho ngài thuốc Tán Thư Cân thượng hạng này đấy ạ. Nói xong rồi tủm tỉm cười hiền nhìn Phương Ngọc. Hoạ Câu được trời sinh một gương mặt nhỏ, trái xoan xinh xắn, dù có bao nhiêu tuổi vẫn phảng dáng vẻ trẻ con, khiến cho người ta khó lòng mà nảy sinh phòng bị. Phương Ngọc liếc Hoạ Câu một cái, vẫn trầm ngâm từ tốn nói: — Nương nương khách khí quá, những điều này chẳng qua chỉ là bổn phận của nô tài mà thôi, có gì mà đáng để nhớ đâu? Họa Câu lại cười: — Phương công công, nô tỳ vụng về không biết ăn nói, nhưng vẫn nhớ trước đây hầu hạ bên cạnh nương nương cũng từng nghe nương nương dạy bảo: điều tối quan trọng khi tặng quà là thứ tự trước sau. Cũng như người có sang có hèn, vật cũng có vật quý vật xoàng, phàm những thứ quý báu hiếm có, đương nhiên là phải để dành lại tặng cuối cùng rồi. Phương Ngọc im lặng xem Hoạ Câu định làm gì, chỉ thấy rút ra từ trong tay áo một phong thư. Đa số cung nhân không biết chữ. Hoạ hoằn thì như Đồ Bích, Họa Câu theo hầu bên cạnh Tiết Hoàng hậu, được Tiết Hoàng hậu nhân từ thương xót, vả lại vốn ưa cái sự học hành, cho nên mới cho học được vài chữ mà thôi. Còn Phương Ngọc thì vốn đã tự mình biết chữ. Trước khi vào cung, hắn vốn là con em của một nhà làm nông, không có bệ đỡ để xuất sĩ nhưng lại có tinh thần hiếu học, thành ra mấy đời ông cha là học trò nghèo chăm đèn sách. Trong nhà có mấy chục mẫu ruộng cằn cỗi truyền từ đời này tới đời khác, cha Phương Ngọc là một học trò giỏi được Học phủ chu cấp, tuy không thể sánh bằng những gia đình giàu có thực sự có của cải nhưng dù sao mỗi tháng cũng có thể có hai lạng thịt lợn để uống rượu cho khuây. Đáng tiếc, ở đời ngày vui vẫn thường ngắn chẳng tày gang, đến năm Phương Ngọc mười tuổi thì cha mất vì bệnh, trong lúc anh trai lo việc tang cho cha thì lại xảy ra việc mâu thuẫn với một tên vô lại trong tộc, kết quả là bị tên vô lại đó đánh chết. Năm ấy tang trùng tang, cả nhà chỉ còn lại Phương Ngọc, người chị dâu cả, cùng một đứa cháu trai bấy giờ mới hơn hai tuổi. May mắn thay, trời không lấy hết của ai bao giờ, chị dâu của Phương Ngọc dường như là một người nhân hậu và có chí khí, vào nghịch cảnh như thế mà vẫn quyết chí thủ tiết nuôi nấng em chồng và con trai. Nếu chuỗi bi kịch chỉ dừng lại ở đấy và số phận của Phương Ngọc cứ an bài như thế thì hẳn cũng chưa phải là hoàn toàn tệ hại. Nhưng điều khi mười tuổi Phương Ngọc đã không biết chính là lòng người còn xấu xa và tàn bạo hơn hắn tưởng tượng hàng nghìn, hàng vạn lần. Chỉ mới mười ngày sau khi anh trai chết, người trong dòng họ vì muốn nuốt chửng chỗ gia sản ít ỏi mà cha và anh của Phương Ngọc để lại, lại hùa nhau vu vạ người chị dâu của Phương Ngọc thông gian với người khác khi chồng đang còn sống, một đám người nhà không những muốn dìm chị dâu của hắn xuống sông mà còn muốn đánh chết cả đứa cháu nhỏ vì nói rằng nó là oan nghiệt. Để chứng minh mình trong sạch và cũng để bảo vệ đứa con trai, chị dâu của Phương Ngọc tự vẫn trong uất hận, để lại Phương Ngọc và đứa cháu trai nhỏ tuổi của hắn. Không nơi nương tựa, căm ghét gia đình, Phương Ngọc vào cung, một là để mưu sinh, hai là để báo thù. Trong dòng họ Phương Ngọc nhìn ai cũng chỉ toàn thấy mặt ác quỷ ấy chỉ có duy nhất đứa cháu trai nhỏ tuổi khiến cho hắn xót thương không nỡ từ bỏ, cho nên đã gửi lại cho một người đàn bà goá bụa trong cùng thôn nuôi dưỡng, hứa dõng dạc rằng vào cung rồi sẽ gửi tiền ra để chu cấp hàng tháng cho bà ta. Phương Ngọc xuất thân từ gia đình lương thiện, dù dòng dõi nhà nông nhưng lại biết chữ biết nghĩa, vào cung khi nhỏ tuổi, đã được Chu Hoàng hậu - nay là Chu Thái hậu đã giá hạc về Tây - để mắt tới và sắp xếp cho hầu hạ việc ăn ở của Thiên tử ở Đông cung. Cứ thế, Phương Ngọc hầu hạ trong cung thành này đã được mười mấy năm. Nhưng tất cả những chuyện kể trên đây đã là chuyện xưa tích cũ xảy ra từ rất nhiều năm trước rồi, Phương Ngọc chôn sâu ở trong lòng, nay kể lại ở đây để thấy khả năng sinh tồn mãnh liệt của Phương Ngọc, và thói đời xưa nay con người những tưởng là giống loài nhân nghĩa mà vốn dĩ còn tàn ác hơn ma quỷ mà thôi. Chuyện xa xưa thôi không nhắc nữa, lúc này Phương Ngọc nhận lấy phong thư tay từ Họa Câu, do dự một chốc rồi gẩy cái dấu niêm phong bằng sáp đỏ, mở phong thư ra. Thì ra phong thư tay không phải do Tiết Hoàng hậu viết. Thư ấy là do phụ thân của Tiết Uyển Anh, Tiết Huân, tự tay viết từ chữ đầu đến chữ cuối. Tiết Huân dùng thư này để làm lời giới thiệu cho cháu trai của Phương Ngọc vào Học đường Bạch Lộc danh tiếng ở Giang Châu. Đó là nơi tu học của con em thế gia sĩ tộc. Việc học hành, ăn ở của thiếu niên sẽ được chu cấp hoàn toàn. Phương Ngọc siết chặt lá thư trong tay, không thể tin nổi Hoàng hậu lại tặng mình một món quà nặng tưởng ngàn cân đến như thế. Hầu hạ trước Ngự tiền, mà lại còn là tâm phúc bên cạnh Thiên tử nhiều năm như thế, Phương Ngọc tuy là một thái giám nhưng hoạn quan thì cũng phân ra sang quý hay ti tiện. Những hoạn quan cấp thấp, không có tiền đồ gì, ước nguyện cả đời chẳng qua chỉ là tích góp tiền bạc để chuộc lại vật của mình, đặng sau khi chết còn giữ được toàn thây, đầu thai sang kiếp sau không phải khổ sở như kiếp này nữa. Nhưng như Phương Ngọc đây, đến nay đã dư dả tiền bạc, mua được cả nhà cửa rộng rãi bên ngoài cung, cũng đã cưới vợ, giờ chỉ còn một điều duy nhất cứ đau đáu thành tâm bệnh, đó chính là đứa cháu do anh trai và chị dâu để lại này. Từ khi Hoàng đế Nhân Tông mở ra khoa cử, sĩ tử hàn môn khắp thiên hạ ai mà chẳng thắp đèn thâu đêm, dùi mài kinh sử, chỉ mong một ngày được đứng vào hàng ngũ quan lại trên triều. Nhưng dù khoa cử là sự ưu ái dành cho sĩ tử hàn môn đi chăng nữa thì con cháu của những người có thân phận thấp kém như Phương Ngọc vẫn không thể tham gia khoa cử được. Mấy năm trước, khi Phương Ngọc bắt đầu có điều kiện, hắn bèn tìm cách đưa tên cháu trai vào hộ khẩu của một gia đình thanh bạch, nhưng vấn đề thứ hai lại xuất hiện - không thể tìm được thầy giỏi. Sở dĩ Tiết Hoàng hậu có thể thông kim bác cổ là vì nàng đã đọc gần như là hết sách xưa sách nay trong thiên hạ. Mà nàng đọc được nhiều sách như thế thì ngoại trừ nhờ việc nàng thông minh thiên bẩm, chăm chỉ học hành, thì còn là vì ông Trời ưu ái nàng, cho nàng sinh ra đã mang họ Tiết, lọt lòng là quý nữ thế gia, trong nhà có tàng thư trữ như mười vạn cuốn sách. Vạn sự bất công trên đời, quá nửa đều xuất phát từ việc mỗi người có một xuất phát điểm khác nhau, chẳng ai được hưởng phúc giống như ai. Nhà họ Phương ắt không được hưởng cái phúc như nhà họ Tiết. Các đại Nho nức tiếng đương thời, những học sĩ có thành tựu về học vấn, ai nấy vừa nghe đến thân phận của Phương Ngọc là đã liền vội vã từ chối, sợ dạy học cho con em hoạn quan sẽ làm ô cái thanh danh tiếng hiền sĩ Khổng Nho thanh cao của mình. Trong tình cảnh thế này, dù Phương Ngọc có tích trữ được bao nhiêu của cải đi chăng nữa thì cũng không thể tìm được một người thầy tốt cho cháu trai. Cũng là bởi sự tôn quý thanh bạch, đáng tiếc thay lại là thứ xưa nay không mua được bằng tiền. Cho nên Phương Ngọc ý thức rõ trọng lượng của phong thư này. Xưa nay Đô An hầu Tiết Huân nổi danh là người coi trọng địa vị và thứ bậc tôn ti, coi môn đăng hộ đối là cơ sở để bảo vệ sự lâu bền của tầng lớp thế gia sĩ tộc. Chớ có nói đến con em thường dân và sĩ tử hàn môn, ngay như đến con cháu thứ tộc cũng đừng có hòng mà ngồi cùng bàn với Đô An hầu Tiết Huân. Một người như thế mà lại bằng lòng tự tay mài mực viết thư giới thiệu này cho cháu trai của Phương Ngọc vào học trong Học đường Bạch Lộc. Một việc như vậy, chỉ có thể là việc người cha nuốt đắng ngậm cay làm vì con gái của mình mà thôi. Hoàng hậu đây là đang lấy nghìn vàng ra mua xương ngựa. Điều nàng muốn chính là sự quy phục và lòng trung thành của Phương Ngọc. Trong khoảnh khắc, Phương Ngọc chỉ cảm thấy tờ thư mỏng manh trên tay này nặng tựa ngàn cân. Nhận, hay không nhận? Mặc dù tất cả những gì bây giờ Phương Ngọc có trong tay đều đến từ Thiên tử, nhưng Thiên tử thì chẳng qua cũng coi hắn là chó lợn, gọi đến thì đến, đuổi đi thì đi, có thể tùy ý đánh mắng sỉ nhục. Nói tóm lại, nô tài vẫn hoàn nô tài, và nô tài thì không phải là người. Đang tư lự thì lại cảm thấy cái đầu gối bị Thiên tử đá bỗng dưng nhói lên, cứ đau âm ỉ mãi. Họa Câu vẫn nhìn hắn, cười mỉm mà không nói gì. —— Còn tiếp —— (*) Lưu Dư Khánh - Tào Tuyết Cần (Thanh)
Bình luậnHoa rơi trước gió bụi thơm, Ngày tàn biếng cả lược gương chải đầu. Thôi rồi, cảnh đó người đâu? Chưa lên tiếng đã tuôn trào lệ rơi. Nghe Song Khê cảnh tuyệt vời, Cũng toan dong chiếc thuyền chơi giải sầu. Chỉ e mấy chiếc khinh châu, Không sao chở đặng nỗi sầu bao la.(*) Phương Ngọc hoàn hồn, trước tiên quát lên: — Phu nhân đâu! Phu nhân mà hắn gọi không phải ai khác mà chính là người vợ hắn mới cưới về, họ Lưu. Lưu thị có gia cảnh nghèo khó, tính tình cũng yếu ớt nhu nhược luôn, tuy rằng ban đầu bị cha bán đi để làm vợ thái giám thì luôn không cam lòng, nhưng sống một thời gian cũng lâu rồi, thấy tính tình Phương Ngọc cũng không xấu xa. Phương Ngọc không có thói động một chút là thượng cẳng chân hạ cẳng tay đánh vợ giống như cha nàng, nên nàng cũng yên tâm, an phận làm vợ một thái giám, ngày thường chỉ chuyên tâm quán xuyến việc nhà và lo lắng cho cháu trai của Phương Ngọc là được. Giờ này Lưu thị vốn đã nghỉ ngơi, nhưng bình thường nửa đêm Phương Ngọc cũng mới về đến nhà nên khi người hầu ra mở cửa lớn thì nàng cũng đã tỉnh giấc rồi. Nhưng đợi nàng vội vàng chải đầu rửa mặt xong xuôi thì người hầu lại nói Phương Ngọc còn dẫn theo một người nữa, nghe nhà có khách nên không dám ra ngoài, đành trốn ở phòng phía sau, cho đến khi Phương Ngọc hét lên một tiếng này thì mới vội vàng chạy ra, cười làm lành: — Đại nhân, có chuyện gì thế ạ? Phương Ngọc lạnh mặt: — Dâng trà, bày bàn ghế ra. Họa Câu mỉm cười, từ chối ngay: — Nô tỳ tạ ơn công công. Chỉ là thời gian gần đây không hiểu sao Hoàng hậu nương nương cứ bị chứng mất ngủ hành hạ luôn, mấy đêm rồi không yên giấc, giờ nô tỳ còn phải về ngay, đặng kịp thắp đèn cho nương nương. Phương Ngọc nhìn một cái rồi gật đầu, đặt phong thư trong tay xuống bàn, trầm ngâm một lát rồi bỗng nhiên cười: — Tuy nô tài không biết vì sao nương nương mất ngủ nhưng giờ lại có một tin vui muốn báo trước cho nương nương, rằng e rằng chẳng bao lâu nữa trong cung sẽ đón Hoàng thất tử. _________ Chân Nhược Y ngồi lặng thinh ở đầu giường, nhìn xấp đạo bào màu xám xanh gấp gọn và đang đặt trên giường. Nàng không kìm được sự thôi thúc ở trong lòng, vươn tay muốn chạm vào gương, cuối cùng thì lại rụt tay lại. Chu phu nhân đã không lừa gạt nàng. Cuộc sống sau khi đến Thanh Bình Quán rất suôn sẻ, mọi thứ ở đây đều đã được sắp xếp thỏa đáng và chu đáo. Ban đầu Chu phu nhân muốn Chân Nhược Y an phận ở chùa Đại Từ Ân, nói rằng nàng tới đó cầu cho Chu Thái hậu được siêu sinh tịnh độ, như vậy thì Thiên tử càng không có lý do gì từ chối. Bao đời này chùa Đại Từ Ân lại được nhà họ Chu cúng dường luôn luôn, không chỉ Chu Thái hậu mà bản thân Chu phu nhân cũng có mối nhân duyên lâu bền và sâu sắc với Phương trượng Minh Nhất của chùa Đại Từ Ân. Nhưng Chân Nhược Y từ chối, nàng cảm thấy mình vẫn còn luẩn quẩn trong cái vòng nỉ nộ ái ố, vẫn còn nặng thất tình lục dục, chưa thể nào dứt được duyên trần tục. Nàng lại ngồi ngẩn thêm một lúc mới đứng dậy khỏi bục, đi đến bên cửa sổ, vươn tay đẩy hai cánh cửa sổ đang đóng chặt ra. Bầu trời bên ngoài cao và rất xanh, trong lành. Nay tháng Sáu là đã giữa mùa hạ, gió hè thổi vào mặt chỉ thấy ấm áp chứ không hề bức bối khó chịu. Nay nhà họ Chân có được sự che chở trọn đời của nhà họ Tiết, cuộc sống từ nay về sau hẳn cũng sẽ không tồi. Chân Nhược Y tựa vai vào bậu cửa sổ, không hiểu sao lại nghĩ đến nhà họ Chân và cả số mệnh của chính bản thân mình. Chân Nhược Y nhận ra mình đã đạt được thứ mình hằng mong ước nhất: tự do. Giờ nàng không còn là phi tần của Thiên tử nữa, không cần phải nơm nớp đề phòng trước đàn bà và cố gượng cười để làm hài lòng đàn ông. Được như giờ là tốt lắm rồi - Chân Nhược Y tự nhủ trong lòng như thế. Mặc dù chỉ là sự tự do rất hạn hẹp trong một không gian có giới hạn, nhưng so với những tháng ngày dài đằng đẵng ở trong cung trước đây thì nay đã là tốt đẹp hơn gấp nghìn lần, gấp vạn lần. Chân Nhược Y, ngươi còn chỗ nào không thỏa mãn nữa? Nàng rời cửa bệ cửa sổ và lững thững đi về bên giường, ngồi xuống, tựa lưng vào đầu giường. Giơ tay lên, thấy chiếc bùa bình an nhỏ vẫn quấn trên cổ tay. Đó là chiếc bùa Tiết Uyển Anh đã cầu cho nàng ở chùa Đại Từ Ân từ mấy năm về trước. Cái ngày bước ra khỏi Hoàng cung và không quay đầu nhìn lại, Chân Nhược Y không mang theo bất cứ thứ gì, vật tuỳ thân chỉ là duy nhất chiếc bùa bình an này. Chân Nhược Y ngắm nhìn chiếc bùa bình an không rời mắt, chằm chằm phải như đến một khắc[1], rồi mới chầm chậm cởi nút thắt ở chiếc bùa bình an đang quấn trên cổ tay ra, nắm chặt nó ở trong lòng bàn tay. [1] 15 phút. Thật lạ. Dẫu đã có được điều hằng khao khát, Chân Nhược Y vẫn thấy trái tim mình như đã mất đi một phần, không còn được nguyên vẹn nữa. Nàng cúi đầu, thở dài, rồi lại nhìn chiếc bùa bình an nằm ngoan ngoãn trong lòng bàn tay. Người ấy bây giờ ở trong cung có được vui khoẻ không? Hẳn là sóng yên biển lặng, mọi chuyện ổn rồi. Công chúa đã cùng Chu phu nhân lên đường đi Tịnh Châu, dù sau này Thiên tử có nảy ra ý oái oăm và gàn dở nào đi chăng nữa thì Chu phu nhân nhất định cũng sẽ bảo vệ đứa cháu ngoại của bà. Đến Tịnh Châu rồi thì sẽ hoàn toàn có thể dựa vào lợi thế đường sá xa xôi, khó bề kiểm soát, ra tay nhanh gọn chọn ngay một chàng rể tốt cho Công chúa từ trong số con cháu nhà họ Chu ở Tịnh Châu. Qua hồi phong ba bão táp vừa qua đây, Tiết Uyển Anh hẳn cũng đã nhìn thấu bản chất của Thiên tử, bộ mặt của hắn rõ rành rành ra đấy, không còn mơ hồ gì nữa. Người ấy sống trong cung, sau này nên nâng cao đề phòng và cảnh giác đối với Thiên tử mới được... Nàng lại miên man suy nghĩ quẩn quanh thêm một lát, không dứt được dòng suy tư. Tiết Uyển Anh còn nhớ mình không? Và liệu có nhớ mình không? Chắc là... không đâu? Chân Nhược Y tự hỏi và tự có câu trả lời. Hoàng hậu còn có cuộc sống riêng không kém phần phức tạp, còn có con cái dưới gối, còn có gia tộc song thân; Chân Nhược Y tự thấy rằng đối với Tiết Uyển Anh thì mình chẳng qua cũng chỉ là một vật mong manh dễ vỡ cần được che chở, vừa khéo đúng lúc ấy lại xuất hiện trong tầm tay của nàng. Trời sinh nàng đa sầu đa cảm, từ bi có tình, giàu lòng nhân ái nên những năm qua đã không tiếc gì che chở và dạy dỗ. Dịu dàng và ân cần đến thế, nhưng chỉ dừng lại ở đó mà thôi. Người hầu đứng tuổi được chỉ định để ở cạnh giúp đỡ nàng gõ cửa và bước vào, hỏi nàng hôm nay có cần bôi thuốc mỡ hay không. Chân Nhược Y đưa tay sờ lên vết thương trên vầng trán, vết thương đã kết vảy, lên sẹo. Người hầu ấy là a hoàn đã hầu hạ lâu năm bên cạnh Chu phu nhân. Chu phu nhân bằng lòng để bà ta lại bên cạnh Chân Nhược Y, một là vì coi trọng lòng dũng cảm từ bỏ phú quý vinh hoa, cảm kích nàng hiểu cái đạo lý biết ơn báo đáp mà bằng lòng xả thân vì Tiết Hoàng hậu và Công chúa Hàm Ninh. Hai là, e rằng cũng là để canh chừng nàng. Thấy Chân Nhược Y không trả lời, người hầu gái cười: — Nương tử không cần phải lo lắng về vết sẹo trên trán này đâu, thứ nô tỳ có ở đây tên là Ngọc Cơ Cao, là thuốc thượng phẩm. Cho dù vết sẹo có ghê gớm đến đâu đi chăng nữa, cứ kiên trì bôi nhiều lần thì cũng sẽ tiêu tan hết thôi. Chân Nhược Y lại nghĩ: Thiên tử bằng lòng cho nàng xuất cung, một mặt dĩ nhiên là vì tức giận Cao Thông đã xúc phạm đến nàng, làm cho hắn mất mặt; nhưng phần nhiều vẫn là vì dung mạo của nàng nay đã khiếm khuyết. Nàng, đối với hắn mà nói, thì đã không còn chút giá trị nào nữa. Nếu cứ bôi Ngọc Cơ Cao, xoá được sẹo, khôi phục được dung nhan, chẳng lẽ sẽ lại phải vào cung hay sao? Nghĩ đến đây, nàng lắc đầu với người hầu, chỉ nói: — Bà cứ ra ngoài trước đi, ta thấy hơi choáng váng, muốn nghỉ ngơi thêm một lát đã. Thực ra lời ấy chỉ là cái cớ, nhưng khi đã nằm xuống rồi thì chẳng bao lâu sau nàng lại thực sự ngủ thiếp đi. Nàng nằm mơ. Một lần nữa, Tiết Uyển Anh lại hiện lên trong giấc mộng của nàng. Giấc mộng này dường như là đặc biệt dài. Đó là độ tháng Ba, cuối xuân. Trời xuân mơ màng và ẩm ướt, vầng trăng trên trời dường như cũng bị bảo phủ bởi một tầng hơi nước mờ ảo. Tiết trời vẫn hơi se lạnh, cơn gió thổi vào mặt khiến cho nàng vô thức kéo lại cho kín chiếc khăn lông cáo đang choàng quanh cổ mình. Tiết Uyển Anh bẻ một cành hoa hải đường đang nở rộ và cài lên mái tóc nàng. Hải đường không hương, vậy thì hương thơm ngào ngạt quẩn quanh trên chóp mũi nàng, xông cả vào buồng phổi, là từ đâu đến thế này? Nàng nhìn Tiết Uyển Anh. Người này... Chân Nhược Y đột nhiên cảm thấy lồng ngực mình thít lại, hốc mắt cay cay và trong tim thì chua xót. Cảm giác cũng từa tựa như khi nàng còn nhỏ thường nghịch ngợm hiếu động, cứ để chân trần mà chạy trong nhà, bị va vào chân bàn nhưng mãi đến sau đó mới phát hiện vết bầm tím. Khi va phải cứ coi không hề gì, cho đến sau đó thì ngấm cơn đau. Tiết Uyển Anh mỉm cười dịu dàng, nói với nàng: — Hoa hải đường mỗi năm một khác, cây hải đường năm nào cũng mới. Chân Nhược Y nhìn chằm chằm vào đôi mắt Tiết Uyển Anh đang phản chiếu gương mặt của chính mình, đột nhiên cất tiếng: — Vậy còn nàng? Nàng sẽ mãi mãi ở bên ta chứ? Vẫn còn chưa đợi được câu trả lời của Tiết Uyển Anh thì đã đột ngột rơi vào ảo cảnh tiếp theo. Lần này là một buổi chiều giữa mùa hạ của năm nào đó. Tiết Uyển Anh đang ngủ trưa, nàng nằm nghiêng trên giường mỹ nhân, còn Chân Nhược Y thì ngồi bên cạnh đều đều phe phẩy quạt tròn, kiên nhẫn xua đi hơi nóng cho giai nhân đang ngủ. Dáng vẻ Tiết Uyển Anh trong giấc ngủ ấy rất đẹp, lông mi dài đổ bóng nom cứ như một đôi bướm đen đậu trên khuôn mặt trắng nõn. Chân Nhược Y chầm chậm đổ người đè lên thân Tiết Uyển Anh, cúi đầu xuống và áp môi lên đôi môi đang hé mở, ghì lấy giai nhân và hôn nàng. Chân Nhược Y ngồi bật dậy khỏi giường, bấy giờ giật mình hoảng sợ, nhìn ra thì mới phát hiện trời đã về chiều chạng vạng. Nàng đã ngủ nguyên một ngày. Nụ hôn trong mơ kia vẫn cứ phảng phất bay lượn trong tâm trí như một cọng lông vũ lướt qua mặt hồ. Nó xuất hiện, không để lại chút dấu vết nào, nhưng lại nặng trĩu và khắc sâu trong tâm trí, đã một lần nghĩ đến thì không thể quên đi. Nó lại cũng như một tiếng chuông vang vọng, đánh thức Chân Nhược Y và ép buộc nàng cuối cùng cũng phải đối diện vấn đề đã nghi hoặc và trăn trở trong lòng bấy lâu nay: Rốt cuộc Tiết Uyển Anh có ý nghĩa gì đối với mình? —— Hết chương 39 —— (*) Vũ Lăng xuân - Vãn Xuân — Lý Thanh Chiếu (Nam Tống)
Bình luận