Chương 1
Năm Gia Hóa thứ mười ba thanh bình ấy. Dòng họ Tô khai mở triều Lương, kể từ thời Thái Tổ hoàng đế, trải qua sáu đời bình định bốn bể, vỗ yên tám phương, thiên hạ được hưởng thái bình, tính đến nay đã hơn một trăm hai mươi năm có lẻ. Vị hoàng đế đương triều, húy là Vĩnh Lịch, niên hiệu Gia Hóa. Luận về vận số, xem ra ngài chẳng bì kịp mấy vị tông tổ tiên hiền thủa trước. Năm Gia Hóa thứ hai, ngồi trên long ỷ còn chưa ấm chỗ đã gặp phải nạn giặc Oa, hải tặc quấy nhiễu vùng biển Đại Lương, thuyền chài, thuyền buôn bị cướp bóc nhiều không kể xiết. Hoàng đế Gia Hóa vốn chẳng phải kẻ nhát gan sợ phiền, cậy nhờ cơ nghiệp tổ tông, nóng lòng xuất binh đánh dẹp. Khi ấy thanh thế lẫy lừng, ra sức một trận là phá tan, tưởng rằng sóng yên biển lặng, ngờ đâu chỉ giữ được nửa năm thanh bình rồi chẳng ngăn nổi cỏ xuân mọc lại. Ngẫm chuyện vô tận ở đời ắt phải có nguồn cơn, chi bằng đoạn tuyệt tận gốc, ắt sẽ diệt trừ được hết. Thế là sang năm sau, triều đình cho phong tỏa các cảng biển lớn nhỏ, lại khoanh vùng chiếm đất, dựng lên nhiều trạm gác ven biển, gọi là "Kính vị phân minh". Mối phiền lo của Hoàng đế bên này vừa mới dứt thì nỗi sầu muộn của thương nhân bên kia lại nảy sinh. Thuyền buôn, quầy hàng, bát cơm của kẻ hành thương cứ thế mà vỡ tan tành. Trong dân gian có câu: "Đạo cao một thước ma cao một trượng, sạn đạo hỏng rồi vẫn còn lối tắt Trần Thương", chúng dân bèn ngóng về phía Nam, tìm thấy một thôn nhỏ ven biển. Nơi ấy nguyên là một thôn chài nghèo nàn xơ xác, lật đi giở lại cũng chỉ vỏn vẹn hơn hai mươi hộ dân, ai ngờ lại là một cảng biển trời sinh, là một chốn neo đậu ấm êm kín gió. Chỉ hiềm nỗi nằm ở nơi hẻo lánh, chẳng bì được với mấy chỗ trù phú khác, nên trước kia chưa từng lọt vào mắt xanh người đời. Nay thời thế đổi thay, phàm là tư chất tốt gặp được vận may thì cũng chẳng biết là phúc hay là họa. Nơi này gần vùng Định Châu giàu có, lại cách xa kinh thành, xem ra đám thương nhân đã gảy bàn tính, trù liệu đâu ra đấy cả rồi. Đến năm Gia Hóa thứ ba, đại hạn kéo dài. Tô Vĩnh Lịch chẳng có thuật phân thân, chỉ lơ là đi vài tháng mà cái thôn Lâm Hải này ngỡ đâu đến bầu trời cũng đã thay màu. Dạo ấy hạn hán, lưu dân mất nhà, mùa màng thất bát, quân đội chinh phạt đã mỏi mệt, lương thảo chẳng đủ để ấm lòng, Hoàng đế chau mày, chẳng còn sức đâu mà hưng binh động võ, đành tạm gác chiến sự lại vài tháng. Nào ngờ vài tháng lại nối tiếp vài tháng, cứ thế buông lơi, càng về sau càng khó thu dọn. Vốn dĩ đất xa, Hoàng lệnh khó tới, thôn Lâm Hải này ở nơi sơn cùng thủy tận lại sinh ra đám dân liều lĩnh, chỉ trong vòng một năm đã biến ra thành cửa ngõ giao thương tấp nập. Ngày tháng dần trôi, việc cai quản nơi này tựa như củ khoai lang nóng bỏng tay, người này đùn đẩy người kia, rồi đến cả triều đình cũng bắt đầu mắt nhắm mắt mở. Suy cho cùng, độc chiếm một cảng này, ắt hẳn trong cung cũng có kẻ thân thích hay người bằng hữu kiếm chác lợi lộc, dây mơ rễ má kéo nhau vào, đã khó xử lại càng thêm khó xử. Lại qua vài năm nữa, hòn tuyết lăn càng lúc càng lớn, triều đình cũng thật buồn cười, dẹp không được thì đành thừa nhận vậy! Thế là ban chiếu sắc phong thành một châu, đặt tên chữ là Phủ, mang hàm ý chiêu an, vỗ về. Để trấn an nơi này, triều đình phái đến mấy đời tổng đốc, tuần phủ, nhưng căn bệnh trầm kha này đã khó chữa thì có làm sao đi nữa hiệu quả thu về vẫn chẳng đáng là bao. Vị tổng đốc hiện tại họ Đổng, tên Vĩnh Đạo, vốn là người hòa nhã, làm việc tuy chẳng được sấm rền gió cuốn như mấy vị tiền nhiệm nhưng rốt cuộc cũng coi như được cái lo liệu yên ổn, hành sự thỏa đáng. Chính vào năm Gia Hóa thứ mười ba thanh bình ấy, Phương Trí Viễn thân hành đến Phủ Châu, bấy giờ đương độ thu sang nơi đất Nam Lương. Đi giữa đường rừng, chẳng ngờ mây gió vần vũ kéo tới, chốc lát mưa tuôn xối xả. Ngó nghiêng bốn phía, thấy cách đó không xa có một ngôi chùa cổ, bèn dẫn theo đám tùy tùng thị vệ vào đó tránh mưa. Mà ngôi chùa cổ này hiện giờ đang che chở cho hai cô con gái nhà họ Quan. Người trông có vẻ điềm đạm hơn là Quan tiểu thư, tên là Quan Vũ Mặc, còn cô gái có phần tinh nghịch kia là nha hoàn thân cận, gọi là Quan Tiêu Thu. Nhắc đến chuyện nhà họ Quan, kể ra thì thật lắm nỗi bi ai. Quan lão gia, tên húy là Quan Thanh Nguyên, thủa nhỏ tinh anh khác biệt, lớn lên có tài thao lược, là Trạng nguyên năm Chiêu Nhân thứ hai mươi tư đời Tiên đế, từng làm quan đến chức Thượng thư bộ Lễ. Sau chẳng biết vì cớ gì, tự xin nhường người hiền, nhận một chức quan nhàn tản, dời phủ về phía thành Đông, dựng nếp "Quy viên điền cư". Ngày thường ông chỉ chuộng văn chương thơ phú, ý tứ an nhàn, thanh tân điển lệ, tự có cái thú riêng, soạn cuốn "Nam Lương Điền Hiên Tập". Người đời kẻ khen người chê, có kẻ cười ông vinh hoa phú quý bày ra trước mắt mà không biết hưởng, cũng có người khen ông biết thịnh suy, rõ tiến lui; nhưng lời ra tiếng vào cũng chỉ như chuyện phiếm sau bữa cơm, rộ lên một thời rồi qua năm dài cũng chìm vào quên lãng. Vị lão gia nhà họ Quan ấy tính tình đôn hậu hiền lương, thanh minh chu đáo, kết giao rộng rãi, ngờ đâu trời xanh lại nhẫn tâm cướp đi người con trai độc nhất dưới gối. Sau này, ngỡ trời lại mở mắt, ban cho ông một mụn con gái, chính là Quan Vũ Mặc bây giờ. Quan Thanh Nguyên già rồi mới có con bế bồng, tự nhiên là yêu thương hết mực. Nhưng cảnh vui ngắn chẳng tày gang, chưa nói đến việc người vợ kết tóc qua đời, mà thời gian sau lại vướng vào vụ án văn tự, ngục văn chương; đã thế khi lục soát gia sản còn tìm ra được mấy thứ đồ bị quy vào tội phạm thượng. Khi ấy người đầu bạc phải vào ngục, thân thích bạn bè chẳng ai dám đến tiễn đưa, chỉ đành lén viết thơ văn mà khóc thầm thế thôi. Hôm sau, kẻ đầu xanh bị đày đến Phủ Châu, không người đưa tiễn, ngoái nhìn nhà cũ thấy tấm biển gãy làm đôi, mảnh thì "Quy viên", mảnh thì "Điền cư", lặng thinh không nói, chỉ biết gạt lệ mà đi. Kể cũng thật khéo, chẳng phải đã ứng nghiệm câu "Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí" hay sao! Quan tiểu thư ấy chẳng biết phạm phải thái tuế gì, mắt thấy Phủ Châu đã sắp đến nơi thì giữa đường lại có một toán sơn tặc thảo khấu chợt xông ra. Đám lính áp giải tan tác hết ráo, kẻ gan lớn bằng trời thì rút kiếm chống cự, kẻ nhát gan như chuột thì chạy trốn tứ tung, nhất thời đao kiếm sáng lòa, cảnh tượng hỗn loạn. Hai cô gái nhà họ Quan nhanh trí, mượn cớ cây cỏ rậm rạp, nấp ngay vào trong bụi, rồi lần theo đường nhỏ, tìm được đến ngôi chùa này lánh nạn. Nếu cây cối trong rừng thưa đi một chút, nếu xiềng xích dưới chân nặng thêm một phần, nếu ngôi chùa trong núi xa thêm một dặm, e rằng khó thoát kiếp nạn. Lại vừa khéo như thế, hai người nương tựa vào nhau, trong lòng vẫn còn kinh hồn bạt vía. Mưa rơi, nghe tiếng biết to nhỏ. Người tới, nghe bước biết ít nhiều. Đôi mắt sáng của Quan Vũ Mặc chợt chuyển, vội kéo Quan Tiêu Thu đang ngồi dưới đất dậy, bảo: "Có người đến, mau mau theo ta nấp ra sau tượng Phật." Quan Tiêu Thu nghe vậy thì hoảng hốt đứng lên, chẳng ngờ chân bị xiềng xích vướng víu, ngã dúi dụi vào đống rơm khô. Quan Vũ Mặc chẳng màng gì khác, vội chạy lại đỡ nàng. Đúng lúc ấy nghe tiếng người nói, rằng nơi này là một ngôi chùa hoang. Rồi lại thấy mấy bóng người y phục quan lại bước vào, bảo rằng chỗ này có hai người con gái. Một tên thị vệ trẻ thấy hai người ăn mặc như tù nhân, định rút đao ra hỏi. Một tiếng "Khoan đã" vang lên, Phương Trí Viễn giữ lấy chuôi đao của hắn, chỉ thấy một trong hai người con gái kia bước lên phía trước, rồi cứ thế quỳ sụp xuống đất. Cảnh tượng sơ ngộ ấy, kể ra cũng thật là một sự sắp đặt trớ trêu mà đặc biệt của định mệnh. —— Hết chương 1 —— Quy ước về đại từ nhân xưng: Để đảm bảo tính chuẩn mực văn học lối cổ điển nhưng vẫn giữ được sự tự nhiên, ở đây cả 'ta' lẫn 'tôi' đều sẽ cùng được sử dụng linh hoạt tuỳ vào nhân vật, tình huống, giai đoạn. Xưng 'ta' khi người bề trên nói với bề dưới hoặc tự cho mình ngang hàng với đối phương; xưng 'tôi' khi người dưới nói với bề trên hoặc tự bày tỏ ý khiêm nhường.
Bình luận