Chương 20: Nghe nức nở thương loài u tối, kiếp phù sinh chìm nổi mấy khi
Đêm nay không ngủ. Nghe Tứ Thuỷ u hoài trôi chảy Mượn thế ai dựng dấy cơ đồ Tiền tài dốc cạn hư vô Phiêu Diêu vạn dặm Hung Nô bạt hồn. Gió chợt nổi, mây tuôn mờ mịt Tiếng quân đi, hồn tích xương tàn Người reo, núi lặng, không gian Hiểm quan ngàn thuở, chôn vùi ba quân. Kẻ gác tía bút thần mực thánh Lũ áo xiêm lành lạnh kinh đô Sắt rèn vó ngựa nhấp nhô Giữ gìn thiên hạ... là nhà của ai? Nghe nức nở, thương loài u tối Kiếp phù sinh, chìm nổi mấy khi? Bất tài, gặp buổi thịnh thì Chẳng mong xếp bút, ra đi chiến trường. Thôi thì gọi gió muôn phương Đại Phong trỗi dậy, xót thương quân hành![1] Đêm khuya thanh vắng, đã quá giờ Sửu, ánh đèn le lói chưa từng tắt. Quan Vũ Mặc cầm đèn, bước vào thư phòng, không nói nhiều lời, lẳng lặng châm thêm dầu đèn rồi định lui ra. Phương Trí Viễn đang mải miết viết lách, ý tứ đang tuôn trào, chẳng buồn mà chào hỏi. Chưa đầy nửa tuần trà lại thấy Quan Vũ Mặc quay lại, tay bưng một chén nhỏ, nhẹ nhàng đặt lên bàn, tìm ghế ngồi xuống, vẫn không nói gì. Phương Trí Viễn khẽ nâng bút rồi hạ nét móc cuối cùng, đợi thuận tay ký tên xong mới ngồi xuống yên vị. Thấy có nước, bèn định uống, thoạt đầu tưởng là trà, vào miệng mới biết là rượu, chưa kịp ngậm trong miệng một lúc đã nhướng mày nhìn Quan Vũ Mặc, hỏi: "Rượu?" Thấy nàng gật đầu, Phương Trí Viễn hạ mày xuống, ngửa cổ uống cạn, nói: "Còn ấm. Nàng hiểu ta." Quan Vũ Mặc cười một tiếng, cung kính đáp lại hai chữ: "Không dám". Phương Trí Viễn ngồi đó, tay không muốn ngừng, vừa kiểm kê bút nghiên trên án, vừa nói: "Hiểu là hiểu, có gì mà không dám? Đêm đã khuya, sao còn chưa ngủ?" "Chẳng phải đại nhân cũng chưa ngủ sao? Chỉ là thiếp tỉnh giấc giữa chừng, thấy người không ở đó, đoán người ở thư phòng, men theo đường đến tây sương, thấy a hoàn đều ngủ cả rồi, sợ người hết dầu đèn và lại khát nước, nên mới đến đây." Chỉ nghe chàng khẽ thở dài một tiếng, nói: "Ôi... Ta không nghỉ ngơi thì là việc của ta, đâu có cái lý bắt bọn họ cũng không được nghỉ ngơi." Nói đoạn chống đầu gối đứng dậy, vừa rồi đứng lâu lại viết nhanh, bỗng ngồi xuống thấy hơi khó chịu, bèn muốn đứng lên đi lại. Thấy ngọn đèn dầu lúc sáng lúc tối, e là dầu vừa châm nên chưa ngấm bấc, nên tiến lên khêu đèn. Chàng nhìn ngọn lửa nhảy múa, như tay áo múa chốn cung đình, nhất thời quên cả lời nói, nhớ lại vài chuyện cũ, hỏi: "Nàng thấy Phủ Châu thế nào?" Quan Vũ Mặc cúi đầu ngẫm nghĩ một lát, chỉ đáp hai chữ "Khó trị". Đèn lại sáng tỏ. Phương Trí Viễn nghe xong cười một tiếng: "Hay! Hay cho câu khó trị! Lời này không sai, Phủ Châu quả thực khó trị. Đất rộng kì thực không đông dân, hào cường ác bá thì trừ không hết, đi tha hương cũng chỉ một đường, giữ một hải quan mà loạn hồ đồ. Cày mà không ruộng thì chỉ có cá, sóng yên biển lặng thì hải tặc nhiều, hỏi ngư dân đâu dám ra khơi? Khó." Nói xong bước lại, cầm tấu chương trên bàn đưa cho Quan Vũ Mặc, hỏi: "Xem thử không?" Quan Vũ Mặc đón lấy, lại hỏi tờ giấy khác trên án là gì. Phương Trí Viễn bảo là bản nháp, nói việc này trọng đại, không dám viết xong trong một lần. Quan Vũ Mặc nghe xong bèn xin chàng xem cả, cầm hai bản so sánh mà đọc. Phương Trí Viễn thấy nàng đọc kỹ càng, bèn trở về chỗ ngồi, không biết nàng sẽ bình phẩm thế nào, chỉ thấy nàng đọc xong, trả tấu chương lại cho mình, nói: "Đại nhân vừa rồi đã hỏi thiếp thấy Phủ Châu thế nào, vậy tại sao trong tấu chương chỉ nhắc đến quân giới và giảng học, tuyệt nhiên không nhắc đến Phủ Châu nửa lời?" Câu hỏi hay. Phương Trí Viễn không đáp mà hỏi lại: "Nàng nghĩ thế nào?" "Vũ Mặc không biết, nên mới hỏi." Giữa cuộc cờ, có qua có lại, mới có thể chuyện trò vui vẻ. Nếu biết gì nói nấy, nói không chừa chỗ, ngược lại sẽ thành ra áp đặt, cắt đứt mạch suy nghĩ, chỉ chuốc thêm bực mình. Phương Trí Viễn bèn hỏi: "Phủ Châu hiện nay do ai cai quản?" "Đổng đại nhân." "Nếu nói ra cái không hay của Phủ Châu, há chẳng phải là trách tội Đổng đại nhân sao? Phủ Châu khó trị, là sự thật, nhưng tội không ở người, Đổng đại nhân không phải kẻ tầm thường, Phủ Châu tính chất nó vốn thế. Nàng từng làm việc ở Phủ Châu, Đổng đại nhân cũng từng có ơn với nàng, nay nàng là người nhà họ Phương ta, nếu ta mạo muội dâng tấu về chuyện Phủ Châu, e là người khác sẽ bảo ta sống không nể tình." Phương Trí Viễn nói xong, chỉnh lại tay áo, nhìn về phía nàng. Quan Vũ Mặc cũng không tránh ánh mắt chàng, đáp thực lòng: "Nỗi lo này thật sâu xa, thiếp quả thực chưa từng nghĩ người làm quan còn phải thấu hiểu nhân tình thế thái đến mức này, chỉ nghĩ là cứ đem hoài bão viết hết lên tấu chương dâng lên là được." Phương Trí Viễn hiểu ý nàng, chuyện này đâu phải chuyện mà người ngoài cuộc có thể dò xét nông sâu? Bèn than: "Bất đắc dĩ thôi. Thật ra cũng chẳng phải vậy, thử hỏi nghề nào nghiệp nào trên đời mà không cần vừa an phận thủ thường, lại vừa phải xét đoán lòng người? Cho dù là quán bánh bao ven đường thì cũng không chỉ phải biết làm bánh bao sao cho ngon mà còn phải biết lôi kéo khách quen, bài trừ đối thủ. Ta tuy ở Công bộ, qua lại tiếp xúc với máy móc đồ vật nhiều hơn cả với người, nhưng vẫn khó tránh khỏi thói tục ở đời." Quan Vũ Mặc nghe xong hỏi: "Thiếp xin mượn ví dụ của đại nhân. Người làm bánh bao nghiên cứu món nghề của đầu bếp, làm bánh bao ngon đã chẳng dễ dàng, nay còn phải lo chuyện khác, há chẳng phải bị phân tâm sao?" "Chính là như thế, cho nên vừa rồi ta mới bảo là bất đắc dĩ. Cái mà kẻ bán bánh bao cầu mong không phải là có thể làm ra cái bánh bao ngon nhất, mà là lợi nhuận. Nếu cái mong cầu nhất đã là lợi nhuận thì phàm là thuật gì, cách gì có thể tăng thêm lợi nhuận, đều sẽ có thể dùng. Làm quan thì khác. Cái cầu mong nhất khi làm quan không phải là làm quan sao cho hanh thông tám hướng, mà là cầu sự trường trị cửu an. Nhưng cái trường trị cửu an này, đâu phải ai cũng cầu được? Tất nhiên phải bị phân tâm, phải lo những chuyện khác thôi." "Ý đại nhân là phải được trọng dụng trước đã?" "Đúng vậy. Cũng giống như nàng đọc đủ thi thư nhưng lại không thể tiến ngôn lên Ngự án, không thể cho ý kiến trước Bệ hạ. Một là, nàng không có công danh, Bệ hạ không gặp nàng; hai là, nàng là nữ tử, bá quan không nghe nàng. Trị quốc, trước tiên phải có danh tiếng, nếu không có danh tiếng thì phải đỗ đạt, đỗ đạt xong phải có công trạng, có công trạng rồi còn cần có quyền hành, nếu không có thực quyền thì lời nói chỉ nhẹ tựa lông hồng. Kẻ sĩ trong thiên hạ có lòng trung báo quốc không ít, nhưng kẻ có lòng trung mà được trọng dụng thì mấy người? Cái cốt lõi của chính trường cũng chẳng khác gì tranh đấu chốn hậu cung, quan lại tiền triều với phi tần trong cung vốn chẳng khác gì nhau, 'nhan sắc phai tàn, có kẻ ba mươi sáu năm chưa từng được gặp mặt quân vương'." Nói đến đây, cúi đầu cười một cái, thấy ví dụ này nực cười mà lại xác đáng, rồi nói tiếp: "Tâm nguyện của ta chẳng qua là cúc cung tận tụy để báo đền nợ nước, nhưng trước khi có thể hiến kế cho Vua thì cần phải đỗ đạt, cần có công trạng, cần có quyền vị, cần có thời cơ. Ta đã làm quan trong triều năm năm, kế sách ấy có thay đổi chăng? Chưa từng, trước sau vẫn như một. Chỉ than xuân thu qua nhanh quá, bốn mùa chỉ như cái chớp mắt. Nếu nàng biết Tam Quốc, ắt biết vì sao Khổng Minh lại đầu quân cho Lưu Bị chứ không phải người khác. Cũng cùng một lý lẽ cả thôi. Chẳng qua là nói thẳng chí hướng, bớt đi đường vòng mà thôi. Ôi... Đêm đã khuya, nàng cho ta một ngụm rượu là ta đã say ngay rồi, chớ trách ta ở đây nói nhiều." Dưới ánh đèn, Phương Trí Viễn ngồi đó, một tay chống cằm, một tay mân mê tờ giấy Tuyên trên bàn, chỉ là mân mê chứ chẳng có mục đích gì. Đôi mắt khép hờ, nhưng chẳng buồn ngủ chút nào, dường như thần sắc chẳng có chút sinh khí, nhưng ánh mắt sáng quắc. Từ lúc nhận được thư nàng đã ngồi trong thư phòng rất lâu, e là trong lòng nàng cũng đã nghĩ qua đủ trăm điều, quá nhiều quá nhiều chuyện chất chồng trong lồng ngực, quá nhiều quá nhiều đường đi nước bước phác thảo trong lòng, quá nhiều quá nhiều ý khí không sao giải tỏa được, chỉ vì chúng đều là hư ảo. Tất thảy chúng đều là hư ảo, hoặc gửi gắm vào mộng tưởng, hoặc gửi gắm vào tương lai, nếu cúi đầu nhìn vào tay thì mới biết tay trắng không có gì, chỉ có mỗi bản vẽ trong đầu mà thôi. Liệu có thấy được chăng? Có khả năng, mọi sự trên đời đều có khả năng. Nhất định sẽ thấy được chăng? Không chắc chắn, mọi sự trên đời đều không chắc chắn. Phương Trí Viễn đã đọc quá nhiều sách, thấy quá nhiều kẻ đắc ý gió xuân, cũng thấy quá nhiều kẻ bi thương lạc lối. Sự vật và sự việc nào cũng có hai mặt, có đắc ý ắt có thất ý, nhưng lòng cầu mong quá thiết tha thì ắt cũng quá sợ hãi sẽ không đạt được. Nàng rất ít khi nói chuyện với ai như thế này, nhưng trước mặt Quan Vũ Mặc thì dường như lại có thể trải lòng một chút, Phương Trí Viễn nghĩ vậy. Mà nói đến chuyện cầu mong mà không được, thì làm sao có thể không nhắc đến tiểu thư nhà họ Quan đang ngồi đối diện nàng đây? Quan Vũ Mặc đáp lời, lời này không cần suy nghĩ kỹ, không cần cân nhắc, có thể nói thẳng. "Thiếp đang lắng nghe đây, sao lại trách đại nhân nói nhiều?" Phương Trí Viễn sợ làm phiền sự thanh tịnh của nàng, bèn thêm: "Sau này nàng cũng chẳng làm quan, nghe hay không nghe, hiểu hay không hiểu cũng đều không sao cả. Ta chỉ sợ trút bầu tâm sự của ta lên nàng sẽ làm mất hứng của nàng, nhưng nàng nếu thấy không sao, thì đương nhiên là tốt rồi. Ta có một yêu cầu quá đáng thế này. Giờ khó ngủ lại sinh nhã hứng, ta có thể mời nàng nói chuyện thêm với ta vài câu được không?" "Đại nhân cứ nói." Phương Trí Viễn bèn hỏi: "Vừa rồi nàng đã đọc cả hai bản, chắc biết ta đã xóa đi mấy câu." "Có phải đoạn viết về Phủ Châu không?" Hỏi xong, nàng lại đọc lên hai câu đó luôn, trôi chảy, tức là vừa đọc một lần mà nàng đã thuộc lòng: "Sao không noi theo phép tắc triều xưa, biển nạp trăm sông, lại sợ giặc Oa sinh chuyện, mà đóng cửa hải quan ta? Đã giữ Phủ Châu, sao không cai trị mà lại bỏ mặc?" Còn gì khiến người ta vui mừng hơn khi có người đọc thuộc lòng bài văn mình vừa viết ngay trước mặt? Phương Trí Viễn không khỏi khen ngợi ngay: "Quả thực là trí nhớ quá tốt! Đúng là ta đã xóa đoạn này, ta muốn bàn về Phủ Châu, ta muốn nói về hải quan, nhưng ta không thể. Vì đâu?" "Lời lẽ quá gay gắt?" "Đúng, lời lẽ gay gắt sợ làm phật ý Quân vương. Cũng chẳng phải nịnh nọt, chẳng qua là thuốc đắng dã tật sự thật mất lòng, người không phải thánh hiền, thân ở ngôi cao, không xét nhân tình ắt bị che mắt. Kế sách hiện nay, trọng tâm ở hỏa khí và giảng học, còn chuyện Phủ Châu đã lần lữa trì hoãn mãi rồi, không sợ muộn thêm một sớm một chiều. Còn một nguyên nhân nữa, nàng có biết chăng?" Quan Vũ Mặc đáp: "Đại nhân đã bàn đến hai việc quân giới và giảng học thì sẽ tập trung vào hai việc đó, nếu nhắc thêm Phủ Châu và hải quan, dường như sinh thêm rắc rối, sợ Bệ hạ coi nhẹ cái này mà coi trọng cái kia?" Phương Trí Viễn vỗ tay khen phải: "Chính là thế, mà bốn việc này không việc nào không phải đại sự, làm gì có lý nào nên coi nhẹ một việc? Bèn đợi thời cơ tốt, sẽ dâng tấu tâu lên sau." Nói xong nhìn nàng, cười và khen: "Nàng đấy, cũng là tâm tư thất khiếu linh lung, đầu óc nhạy bén ra trò, hôm nay ta cho nàng xem văn, ngày sau nếu nàng viết văn thì cũng phải cho ta xem đấy." Quan Vũ Mặc cười nói chàng quá khen, văn chương chẳng qua đọc nhiều một chút, hiểu sơ đôi chút, nếu thực sự bắt tay vào viết, e là sẽ làm trò cười cho thiên hạ, sau đó lại hỏi: "Thiếp có một câu hỏi, nếu quân chủ hiền minh, kẻ làm bề tôi hà tất phải lo lắng đến mức này?" Phương Trí Viễn đáp: "Không phải vậy. Cái che mắt Vua nằm ở chính cái ngôi vị của người, người ở triều đường giống như thân hãm trong ngục, bốn bề đều là vách. Tai nghe mắt thấy, cũng là thân bất do kỷ, nếu kẻ làm bề tôi không lo thay cho vua thì còn ai có thể mở đường ngôn luận? Từ xưa đã thế! Xưa nay đều có thánh hiền năng thần dâng tấu xin vua hãy sáng suốt, chí hướng đều như một, chẳng qua là vì nước vì dân." Quan Vũ Mặc bèn hỏi: "Nếu người trong thiên hạ bầu ra một người để cai quản thiên hạ, há chẳng phải bỏ được cái che mắt đó sao?" Hôm nay mấy câu hỏi liên tiếp đều rất hay, Phương Trí Viễn có chút nghi ngờ người này cài thám tử ở trong lòng mình, hoặc là trong lòng mình có một đôi guốc của nàng. Câu hỏi này, may mà ở trong nhà, lại đêm hôm khuya khoắt, nếu không mà để người khác nghe thấy rồi tố cáo mình tội làm quan mà không biết dạy vợ cũng không oan. Nhưng nghĩ nàng vốn là người cẩn trọng như thế, chắc hẳn hiểu rõ đạo lý bên trong, nên không định nhắc đến việc này. Cũng lại thầm khâm phục nàng là nữ tử chốn khuê phòng mà có thể nghĩ đến mức này thì quả thực không dễ, rồi chợt nghĩ nàng từng nhậm chức ở Phủ Châu, e là cũng đã thấy và đã biết không ít điều. Thế là mọi chuyện đã thông, Phương Trí Viễn đáp: "Lời này tuy đại nghịch bất đạo, nhưng lời cũng rất hay. Nàng đã dịch 'Dân Ước Luận' cho ta, nàng có đọc qua không?" "Có." Ngoài cửa sổ tối đen, trong cửa sổ sáng tỏ, đêm thì sâu thẳm mà lòng không mờ mịt. "Nàng có biết chuyện có nước không đặt tước hiệu vương hầu, không theo quy tắc cha truyền con nối, việc công giao cho công luận, tạo ra cục diện xưa nay chưa từng có không?[2]" [2] Trích 'Doanh Hoành Chí Lược', sách nói về chính trị nước Mỹ thuở sơ khai. Quan Vũ Mặc không rành chuyện nước khác, nhưng sử Hoa Hạ này tự nhiên là thông thạo, tuy biết chàng không phải nói chuyện này, vẫn trêu đùa: "Chẳng phải là Nghiêu, Thuấn, Vũ đó sao?" Phương Trí Viễn nghe xong thì bật cười lớn, hứng thú đáp lại: "Nàng cũng thú vị thật. Nghiêu, Thuấn, Vũ đúng là có chuyện này, nhưng ba đời là mất, gốc rễ không bền. Triều ta nếu dùng thuật này để trị quốc thì e là long trời lở đất mất. Cục diện đúng là cục diện tốt, kế cũng là kế hay, nhưng không có thế, nên cần tĩnh tâm đợi thời cơ. Mấy hôm nay ta đọc vài trang 'Dân Ước Luận' mà nàng đưa, sách này tuy từ xứ người nhưng lý luận này xưa kia đã có. Thế nàng có đọc Liễu Tông Nguyên chưa?" "Không biết đại nhân chỉ bài nào?" Phương Trí Viễn ghét nhất khi nàng hỏi mình kiểu này. Nếu nàng biết thì cứ đáp thẳng ra, nếu không biết thì cứ bảo không biết, còn nếu nàng muốn đoán thì cứ đoán thẳng, cứ phải hỏi mình chỉ bài nào mới được, y hệt lần trước hỏi mình nên viết chữ gì. Giờ bảo không biết chỉ bài nào, e là đã biết rồi, mà đã biết rồi, sao lại không trả lời ta? Chỉ thấy Phương Trí Viễn đứng dậy, phất tay áo, chỉ vào Quan Vũ Mặc rồi nói: "Nàng cứ thích hỏi lại ta, ta biết nàng biết! Mau trả lời đi!" Quan Vũ Mặc ngả người ra sau ghế, có vẻ thong dong như không, cười đáp: "Người đã biết thiếp biết, người hà tất còn phải hỏi thiếp?" "Cái này..." Quan Vũ Mặc cười hỏi: "Đại nhân nói bài 'Phong kiến luận'?" Phương Trí Viễn bĩu môi, ngồi xuống, nói: "Không có gì là phải hay không phải, chính là nó. Nàng thấy thế nào? Tuy không phải trường thiên đại luận nhưng bản chất tương đồng, mà sớm hơn nước khác không biết bao nhiêu năm. Nàng xem, tư tưởng của con người còn như thế, kỹ thuật của con người sao lại không thể đuổi kịp chứ?" "Vũ Mặc tán đồng." Phương Trí Viễn lại cười: "Tán đồng tán đồng, nếu hai chúng ta quyết định được, quyết xong rồi thiên hạ cứ thế mà làm, thế thì tốt biết mấy. Nhưng biết đường xa vợi vợi, nên gánh nặng đường xa vậy." Nói xong nâng chén định uống tiếp, vừa cầm lên đã thấy chén trống không, hóa ra là đã uống cạn từ lâu. Quan Vũ Mặc thấy vậy, định đứng dậy đi hâm thêm rượu cho chàng, nhưng Phương Trí Viễn giơ tay ngăn nàng lại, nói: "Không cần đâu, đêm đã khuya rồi, không uống nhiều." Hồi lâu không nói gì, Phương Trí Viễn lại lật tờ tấu chương vừa viết ra xem, hỏi: "Nàng có từng đọc tấu chương của Quan đại nhân không? So với bài này thì thế nào?" Quan Vũ Mặc lắc đầu, đáp: "Chưa từng được đọc, từ khi Vũ Mặc sinh ra trên đời thì cha rất ít khi dâng tấu." Phương Trí Viễn biết không moi được gì, nghe nàng nói chưa từng đọc, cũng coi như nằm trong dự liệu, nhưng nỗi thất vọng thì vẫn là khó tránh khỏi. Cũng chẳng biết vì sao mà mỗi lần định hỏi nàng chuyện Quan gia thì đều không có kết quả gì, chẳng lẽ nhà họ Quan này thực sự coi thường con gái, quyết không bàn chuyện triều chính với nữ tử sao? Phương Trí Viễn ngẫm nghĩ một lát, thấy cũng chẳng nghĩ ra nguyên cớ gì, bèn nói: "Cũng phải, về sau này cha nàng giữ một chức quan nhàn tản mà." Quan Vũ Mặc thấy chàng không nói gì, bèn hỏi: "Đại nhân thức đến đêm khuya có phải để sáng mai dâng tấu chương lên cho Bệ hạ không?" Phương Trí Viễn xua tay, đáp: "Không phải. Sáng mai ta dâng lên, Bệ hạ chưa chắc đã rảnh mà đọc, đến lúc đó ta nói một câu trên triều đường thì hiệu quả cũng chỉ đến thế. Nếu chiều mai ta dâng cho người rồi đợi người đọc và ngẫm nghĩ, buổi chầu sớm ngày kia tâu lại, hiệu quả ắt sẽ tốt hơn." Quan Vũ Mặc cười một tiếng, đáp: "Đại nhân thật cao minh." "Ôi, chẳng qua cầu mong thiết tha nên không dám qua loa. Thôi, đêm đã khuya rồi. Nàng về đi." —— Hết chương 20 —— [1]: Đây cũng là bài Lâm Bình sáng tác riêng cho tác phẩm này, mình cảm thấy còn xuất sắc hơn bài Quan Vũ Mặc về thăm Viện Quan Gia, nên giải thích một số ẩn ý trong bài như sau. Sông Tứ là nơi Hán Cao Tổ Lưu Bang Tổ từng làm Đình trưởng. Chữ bị khuyết và cụm từ "Đại phong khởi" (Gió lớn nổi lên - bài Đại Phong Ca của Lưu Bang) ám chỉ sự nghiệp đế vương được dựng lên từ máu xương. Phiêu Diêu - tức Phiêu Diêu Hiệu Úy, tước hiệu của Hoắc Khứ Bệnh, vị tướng trẻ thiên tài nhà Hán đã đánh đuổi Hung Nô. Câu này ý nói triều đình dốc hết tiền của để nuôi chiến tranh. Xếp bút thì lại là dùng điển cố Ban Siêu "xếp bút nghiên theo việc đao cung". Trong bản thơ Hán Việt Lâm Bình dùng "Vô hoài đầu bút", tức là 'không có ý xếp bút" tức là tự nhận chỉ là kẻ thư sinh trói gà không chặt, hoặc chán ghét chiến tranh, chỉ có thể dùng văn chương để an ủi vong linh binh sĩ.
Bình luận