Chương 84: Đôi lời đàm thoại Phủ Châu
Ngày thường vốn chẳng tiện nói nhiều, nay mượn trang cuối sách này, xin được nhặt ra vài chỗ tâm đắc của bản thân cùng những lời trích dẫn để cùng đàm đạo. Chương ba mươi: Lâm Giang Tiên "Nhớ khi điện ngọc xướng danh, Gió xuân thượng quốc kinh thành phồn hoa. Giờ đây quan mọn phương xa, Thân già trôi nổi hải hà mờ sương. Mười năm rẽ lối đôi đường, Khúc Giang luống phụ sắc hương năm nào." Sanh Mạn mượn lời của Túy Ông để giãi bày nỗi lòng thất vọng khi bị giáng chức về Phủ Châu, cũng là cảm thán cho sự vô thường của cảnh ngộ. Xướng tên, ấy là lúc được xướng danh thứ hạng trong kỳ thi Đình, là đỉnh cao trong đời Sanh Mạn, mà nay mười năm đèn sách chỉ đổi lại một ngả đường rẽ, theo bước chân lưu đày về Phủ Châu, đón nhận lấy những tháng ngày trầm luân. Chương ba mươi: Bài thơ con cóc của Sanh Mạn "Người người đều bảo kinh thành hay, Ngựa xe như nước rộn rã thay. Kẻ lại người qua toàn khách quý, Sân sâu viện lớn lầu cao bày. Tài tử giai nhân thực chẳng thiếu, Bút đỏ hương trầm đượm ngất ngây. Một thoáng ham vui ngàn vàng mất, Gió trăng nào quản kẻ nhàn này. Người người đều bảo kinh thành hay, Chẳng đến kinh thành uổng kiếp này. Tứ thư ngũ kinh bụng đầy ắp, Việc nước trong lòng vẽ nét tươi. Nam nhi không lập nên nghiệp lớn, Chi bằng đổi phận nữ nhi thôi. Dẫu có lang thang ngoài đầu chợ, Được bát canh thừa cũng tốt rồi. Người người đều bảo kinh thành hay, Dưới chân thiên tử việc liền tay. Chẳng như Tây Bắc gió cát khổ, Chẳng bằng Đông Nam sóng biển gầm. Ta cũng thấy rằng kinh thành hay, Ôm chí người xưa tựa kẻ say. Mười năm ân oán song cửa lạnh, Đổi năm năm hầu cạnh cửa cửu trùng. Ba mươi sáu kế tới hồi kết, Chẳng được phò tá cho thánh hiền. Giờ khoác áo xanh, mộng này hết, Ta nào có phải kẻ đầu tiên. Người người đều bảo kinh thành hay, Mà ta chẳng dám làm kẻ say. Khi đến kinh thành chưa luống tuổi, Đến rồi thành kẻ vướng đoạ đày. Kinh thành người ngựa như dòng lũ, Chẳng bằng Phủ Châu cảnh thanh u. Gió xuân dịu dàng tình hoa thắm, Mưa hạ từng cơn rèm nhẹ lay. Nắng thu ấm áp khói lam tỏa, Tuyết đông lất phất lại sương bay. Rảnh rỗi có thể ngâm thơ phú, Buồn phiền ngắm núi buổi sớm mai. Đâu có án thư làm phiền nhiễu, Lao lực đằng đẵng suốt đêm dài." Câu đầu lấy cảm hứng từ bài "Bồ Tát Man – Du nhân tận đạo Giang Nam hảo" của Lý Bạch. Kinh thành có chỗ nào tốt đâu, chỉ tốt với kẻ có tiền có quyền mà thôi. Đã bị đày rồi thì bị đày thôi, đành an thân lập mệnh ở Phủ Châu vậy. Rốt cuộc ngoài chấp nhận số phận, nàng chẳng còn lựa chọn nào khác. Đoạn cuối khen ngợi Phủ Châu, thực ra là đường cùng không lối thoát, chỉ là lời than thở bất lực để tự an ủi mình. Chương ba mươi hai: Tuyết phương nam viết cho Sanh Mạn "Tuyết phương Nam, sông Mạc Bắc Ngẫm ra bao nỗi thẫn thờ sầu dâng. Bấy lâu bao kẻ dừng chân, Cửa đền cầu thuốc, đứng nhìn tượng tiên. Đảnh lễ khói tỏa hương thiền, Cầu cho trăm tuổi, ôm riêng trăng ngà. Đảnh lễ khói tỏa hương thiền, Cầu cho tuổi hạc, lại về cửa tiên." Phương nam lấy đâu ra tuyết, Mạc Bắc lấy đâu ra sông? Đều là những chuyện hoang đường chẳng chịu nổi sự suy xét. Tiên đan, ấy là lý tưởng. Tượng thần tiên, ấy là những bậc tiền hiền đã thành công trên con đường lý tưởng. Từ xưa đến nay có biết bao hiền nhân thánh giả, ngày ngày có hậu bối lặn lội về trước miếu của họ, mong hấp thụ được kinh nghiệm và trí tuệ của người xưa, cũng tựa như cầu xin tiên đan, chẳng biết có dùng được không, và cũng chẳng biết có cầu được chăng. Nhưng dẫu thế nào thì cũng phải chu toàn lễ số, chẳng giữ lại chút gì mà cố gắng thử một phen, mong sao mình sống được lâu hơn một chút, và nếu như có cơ hội thì lại đến cầu tiên đan trước miếu thế thôi. Chương ba mươi sáu: Ức Vương Tôn của Sanh Mạn "Sa ngân đoạn biếc sóng lơi dòng, Mắt dõi đường tơ gói sắc thu, Lướt nhẹ mũi kim thầm họa bóng. Khéo tơ lòng, Trộm đợi, cúi đầu, chợt thẹn thùng." Bài Ức Vương Tôn mà Sanh Mạn cảm tác trong mơ màng là một bài từ rất đỗi dịu dàng. Nửa đầu là tả Vũ Mặc, nửa sau là những tưởng tượng của nàng. Chương năm mươi chín: Tô Mộ Già – Đối không sơn của Vũ Mặc "Đối núi không, dựa lầu đông, Bên song chuyện vãn, xót đời lắm long đong. Chợt tỉnh cơn mê, muôn sự hóa hư không. Cầu danh cầu lợi, chi bằng cầu chén rượu hát thong dong. Chí hiên ngang, gửi vào đâu? Lòng này thanh khiết, chẳng oán phận bạc đầu. Luận bàn ngang dọc, lời hứa nặng tâm sâu. Người quân tử ấy, nhân gian tìm thấy đâu?" Tại Đông các, bên cửa sổ nhìn về ngọn núi trống, nói vài chuyện vụn vặt, lần lượt đếm lại những được mất đúng sai của đời này. Một phen suy xét, rất nhiều chuyện đã chẳng còn quan trọng nữa. Từng tham danh trục lợi, nay tùy cảnh mà an, chẳng màng được mất. Một tấm lòng hạo nhiên, biết làm sao đây? Biết gửi gắm vào đâu? Dẫu bị trăm ngàn lần mài giũa đập vùi vẫn giữ một lòng thanh tư, một thân chính khí, không oán trời trách người, không nặng lời từ bỏ. Người quân tử như người, ở nhân gian này e là khó mà tìm thấy được. Chương sáu mươi tư: Kinh Thi Mận đào người tặng ném sang, Quỳnh dao ngọc đẹp mang ra đáp người. Phải đâu báo đáp vậy thôi, Để cùng tốt đẹp đời đời kết giao. Là loại hảo tâm này. Cây dâu chỗ thấp đẹp thay Lá thì trơn bóng rậm dày tốt tươi Gặp trang quân tử ấy rồi Rằng sao lại chẳng thích vui toại lòng? Là loại hảo tâm này. Củi hồng buộc chặt tơ duyên, Ba sao lấp lánh giữa miền trời đêm. Là loại hảo tâm này. Tiết Trung thu, Vũ Mặc hỏi Sanh Mạn có tâm tư ý đồ gì, thực ra là đang trêu chọc nàng. Tôi cảm thấy trong sự trêu chọc ấy còn có sự dẫn dụ lả lơi, lúc này suy nghĩ của Vũ Mặc cũng có chút nghĩ lệch lạc rồi, không còn trong sáng nữa. Dù sao thì vừa sắp xếp người ta vào tửu lầu, vừa chuốc rượu, lại còn chuẩn bị phòng, với người có tâm tư tỉ mỉ như Quan Vũ Mặc, không nghĩ lệch lạc cũng khó. Nhưng Sanh Mạn đơn thuần chỉ là ôm ấp một tấm lòng tốt đẹp mà thôi. Ba bài Kinh Thi ở đây đều là về tình yêu. Theo lý mà nói, lúc tránh nóng ở trong núi là hai người họ đã có thể ở xác định quan hệ rồi, nếu Sanh Mạn thúc đẩy để 'gạo nấu thành cơm'. Nhưng Sanh Mạn đã dành cho Vũ Mặc đủ thời gian và sự tôn trọng. Đây là cuộc đời của nàng, không thể chi phối nàng, càng không thể quyết định thay nàng. Nếu như cưỡng cầu và thúc ép để ở bên nhau, tôi nghĩ Quan sẽ chẳng thể tự mình tỉnh ngộ, đợi đến lúc phải lên kinh thì nàng vẫn cứ là một người yếu đuối như xưa. Chương sáu mươi tư: bài Trường Tương Tư tặng hai người Tương tư dằng dặc lòng khôn định, Cỏ cây thưa, sầu phủ tâm linh. Tiểu đình dạo bước một mình, Gió lồng áo mỏng, thấm tình hơi sương. Tâm sự gửi phương mây vạn dặm, Ngựa đơn hành vượt thẳm trùng quan. Vung tay bút họa cung đàn, Người đa tình luống thở than sự đời. Hương xuân đọng chén ngọc thơm ngát, Lầu cao say khúc hát thanh hoan. Trăng soi nến thắp nồng nàn, Cánh bèo phiêu dạt nay toan sum vầy. Tương tư gác lại từ đây, Mắt nhìn đôi mắt, phút giây tương phùng. Bởi vì câu "Trường tương tư, tại Trường An" của đại thi hào Lý Bạch đã quá lừng danh, nên bài này thủa đầu tôi đã thai nghén rất lâu, vần chân cũng thuộc bộ Thượng bình thập tứ hàn. Chương sáu mươi lăm: Thu tứ của Sanh Mạn Lòng ta tâm niệm sắt son, Triêu triêu mộ mộ, vẫn còn vấn vương. Cùng khanh thỏ thẻ lời thương, Cùng mưa thủ thỉ, đoạn trường ai hay. Sanh Mạn: Lòng ta nhớ nhung da diết, muốn cùng nàng sớm tối bên nhau, cúi đầu lí nhí, ấp a ấp úng, nho nho nhã nhã, có chút thẹn thùng mà kể lể với nàng bao điều. Chữ "khanh" và chữ "mưa" ở đây, đều là chỉ Vũ Mặc.[*] [*] Vũ chính là Mưa (Yu). Trẻ thơ yêu thích gì của Sanh Mạn "Ông nội bế cháu đặt trên đùi, Hai khóe môi cười ánh nắng tươi. Họ hàng trêu hỏi đôi lời nhỏ: "Con trẻ yêu thích thứ gì thôi?" Huynh trưởng yêu quan ấn trên tay, Em nhỏ yêu hoa nở chốn này. Hoa núi nở giữa ngàn mây biếc, Năm tháng nhuộm hồng ráng chiều bay. Bẻ hoa, cắm bình, hương ngát phòng, Một gian thanh nhã, gió thoảng lòng. Mến vì hương tỏa nơi xa vắng, Tiếc lúc hoa tàn rụng cuối đông. Năm sau hoa nở thêm cành mới, Lại tiếc, lại thương, vẫn chơi vơi. Nhưng ấn chẳng dễ cầm trong tay, Phải lấy lý tưởng vẽ tháng ngày. Lý tưởng chìm khuất nơi bể thẳm, Vật gì đổi được tấm lòng này? Em nhỏ rơi lệ, thề cắt tóc, Đổi áo làm quan, đoạn phận hoa. Bỏ cả bình xưa và hương cũ, Một thân gánh vác mộng phong ba. Mười năm cô đăng bên cửa sổ, Quan ấn bên mình, mũ ô sa. Ấn này vuông nặng, nghiêm mà lạnh, Chẳng tựa hoa xưa đẹp mặn mà. Triều đường mờ mịt xa muôn dặm, Ngoảnh lại đôi lần chẳng phải nhà. Người hỏi trẻ nhỏ yêu thích gì? Quan ấn hay là một đóa hoa?" Một bài vè bi thương. Sanh Mạn là thế, khi bi thương đến cùng cực rồi thì chỉ viết được vè thôi. Khi còn nhỏ, sống vô lo vô nghĩ, thân thích bạn bè ngồi vây quanh, thúc bá tổ phụ ôm hai đứa trẻ trên gối, hỏi chúng thích gì? Anh trai chọn quan ấn, em gái chọn hoa. Anh trai thích quan ấn, em gái thích hoa núi, vốn dĩ chẳng có vấn đề gì, tất cả đều là ở dáng vẻ ban sơ nhất, ở điểm khởi đầu tràn đầy hy vọng nhất của sinh mệnh. Cớ sao lại biến thành bộ dạng như bây giờ? Chương sáu mươi chín: Động phòng hoa chúc Thử mặc tiêu tình: Tiêu tình, một loại tình ý đặc biệt dễ nảy sinh vào buổi đêm. Thử mặc, chấm mực. Thử mặc tiêu tình, cách hiểu văn vẻ là dùng mực viết nên tình ý của chúng ta. "Thuyền son rẽ lối vào hoa thắm, Chén vàng dâng hương đậm ngất ngây. Khói mưa lất phất giăng đầy, Sênh ca vang vọng, say quên lối về." Thuyền son là gì? Hoa thắm là gì? Dù sao thì cũng đã say trong đó mà quên lối về rồi. Tan tác tơi bời là Vũ: Vũ, tức Vũ Mặc. Gần ngay gang tấc là Viễn: Viễn, tức Trí Viễn. "Trong mơ nàng đi vạn dặm, chỉ để lấy một gáo nước Thiên Sơn, nếm một ngụm mật hoa đào, nghe một khúc hoàng ly hót." Thế nào là nước Thiên Sơn? Thế nào là mật hoa đào? Thế nào là tiếng hoàng ly hót? Trên khăn gấm là nét chữ thanh tú. Máu rơi trên đó sinh một đoá hoa đào: Trên khăn vốn thêu câu "Linh lung đầu tử an hồng đậu" (Xúc xắc linh lung khảm đậu hồng), nên ở đây viết máu biến thành "hoa đào thật sự". Quan Vũ Mặc có lẽ sắp tức chết rồi, "Bà đây dồn tình ý thêu khăn cho ngươi, ngươi lại đem khăn ra dùng để làm cái việc này???" Sanh Mạn chỉ tay vào trán A Quan, hất hàm bảo: "Đúng, chính là phải làm cái việc này đấy!" Chương bảy mươi chín: Tô Mộ Già – Làm trọn mộng nhân gian Nét hoa tiên, xứng dâng bệ ngọc, Lúm đồng tiền trong tấm lụa vàng. Hương đàn thoang thoảng đưa sang, Mắt thu khói toả, thân tâm rã rời. Như loan phượng lả lơi trêu cợt, Giãn mày ngài, thốt tiếng lả lơi. Cùng người quấn quít tơi bời Màn sa trướng gấm, vui vầy mộng hoa. Một bài từ không mấy đứng đắn: Chữ nàng viết trên giấy hoa tiên, đẹp đến mức có thể đem làm cống phẩm (Vũ Mặc là một người chuyên hết lời thổi phồng khen ngợi Sanh Mạn), khen ngợi xong ánh mắt lại ra sức dụ dỗ và quyến rũ trêu ghẹo, so với phu thê bình phàm thì càng biết cách lả lơi trêu đùa, giả thẹn thùng, giả tình giả ý, châm chọc một chút. Diễn xong rồi thì cam tâm tình nguyện rơi vào trong bẫy, chìm trong màn trướng mà ân cần hầu hạ, nồng nhiệt dâng hiến, làm cho hết những giấc mộng đẹp của nhân gian. Thơ tạ từ Cuối cùng, tôi xin gửi đến độc giả một bài thơ nhỏ đã làm lúc gió tuyết phủ đầy đầu bên ngoài thành Phủ Châu năm ấy. Xem tuyết ngoài thành, Lâm Bình cảm tác. Đêm côi hiu hắt giữa đêm thâu Viễn khách đường xưa bước dãi dầu Tóc xanh giờ đây vương sợi tuyết Ngỡ đã cùng nhau bạc mái đầu. Toàn văn Phủ Châu Nhàn Thoại kết thúc ———— Lời cuối sách của Nhà đài: Để khép lại Phủ Châu Nhàn Thoại, tung bông và tung hoa với những độc giả đã đọc đến dòng này. Chia sẻ mỏng, trong quá trình gõ chữ, mình thường nghe OST album của 'Mr. Sunshine'/'Quý Ngài Ánh Dương' (2018, Lee Byung-hun, Kim Tae-ri). Xét về mặt văn phong và cảm giác, đúng như mọi người vẫn hay nói, Phủ Châu Nhàn Thoại (2014) là hậu sinh của những Hồng Lâu Mộng, Mẫu Đơn Đình. Xét về tinh thần và ý tưởng cũng như bối cảnh, Phủ Châu Nhàn Thoại lại luôn cho mình cảm giác của Quý Ngài Ánh Dương. Và Phương Trí Viễn cũng chính là ánh dương của Quan Vũ Mặc (ban đầu là quý ngài, thực ra là quý cô). Cũng là bối cảnh những năm cuối cùng dẫn đến sự sụp đổ của phong kiến Châu Á, các cường quốc phương Tây trỗi dậy và áp đảo trong khi triều đình lạc hậu và yếu ớt nhắm mắt làm ngơ (chuyện Đại Lương mất Phủ Châu vào tay quân Pháp thực tế chính là phiên bản song song của nhà Thanh mất Hong Kong về tay nước Anh). Cũng là chuyện tình giữa tiểu thư dòng thư hương thế tộc cá tính mạnh nhưng bị lễ giáo kìm kẹp đè nén với vị quan tài ba xuất chúng có xuất thân thấp kém và lòng yêu nước chân chính cùng tư tưởng thân phương Tây. Cũng như cách một Joseon thủ cựu và nhu nhược đã phụ Eugene (Choi Yoo-jin) để rồi tan tác trước Nhật và Mỹ, một Đại Lương thủ cựu và nhu nhược cũng đã phụ Phương Trí Viễn (Phương Sanh Mạn) để rồi tan tác trước Nhật và Pháp. Họ đều yêu đất nước của mình tha thiết, cuối cùng đều bị đất nước của mình bỏ rơi. Cả hai đều là bản nhạc lãng mạn mà bi thương về lý tưởng kiến quốc, tình yêu đôi lứa, vận mệnh dân tộc, vượt qua biên giới và chạm đến trái tim vì cái đẹp của nó là cái đẹp chung, vượt lên khác biệt về lập trường chính trị và quốc gia. Một điểm rất khác với tuyệt đại đa số các tác giả thường tô vẽ và đặt Trung Quốc vào vị thế 'thượng phong', 'siêu cường', 'trung tâm thế giới', Lâm Bình lại viết về một Trung Quốc khiêm tốn và thậm chí là xoáy vào sự yếu kém, nhược tiểu; thẳng thắn và trung thực với lịch sử của một thời đại khi chế độ phong kiến tan rã và các cường quốc phương Tây nổi dậy; đả kích tư tưởng chủ quan và thái độ thượng đẳng khinh địch, những kẻ tư lợi của chính dân tộc mình. Song, vẫn còn có người yêu nước thực thụ như Phương Trí Viễn. Và dân tộc nào cũng có những người như thế. Đó cũng là một điểm đặc biệt. Có thể nói đây là tác phẩm tâm đắc nhất mà mình đã từng làm, cảm thấy quá trình từ đầu đến cuối vừa như một cuộc chiêm nghiệm rất có chiều sâu, vừa là một hành trình mài giũa văn chương. Nó là một thử thách vì đây là tác phẩm tiêu hao nhiều chất xám nhất của mình, vì vừa phải hết sức nỗ lực trong cả văn lẫn thơ để làm sao truyền tải đầy đủ nhất có thể vẻ đẹp và sự tinh xảo của nó. Rốt cuộc thì cũng đã hoàn thành, đợi khi rảnh rỗi mình sẽ đăng tải lên Blogspot Kimdan-ssi để lưu trữ, cùng với các bộ khác của đài. Thay mặt đạo diễn Lâm Bình và hai diễn viên chính Phương Sanh Mạn, Quan Vũ Mặc, cảm ơn sự theo dõi của quý khán giả. *tung bông*
Bình luận