Chương 13: Về thăm viện phủ họ Quan, bùi ngùi ngẫm lại việc đời đa đoan
Viện phủ họ Quan, chốn cũ người xưa, đá xám làm tường, dây leo làm cửa, sau cội tỳ bà là hoa đẫm nước mưa, dưới mái lầu cong là nơi chim sẻ đậu. Gió Đông chợt nổi bỗng thấy cỏ non xanh mơn mởn, gió Tây lướt cửa chợt nghe chuông gió gõ leng keng. Rồi lại nghe trẻ nhỏ bập bẹ nói, hoặc là nghe ngâm thơ phú dưới trăng, có cha cầm bút kể chuyện điền viên, dẫu không có trúc vẫn là nơi quân tử ở, vẫn có mẹ hiền thường sang thư hiên ngồi. Khoản học không ngăn tình nghiên mực, tay nắm sự an nhàn đã trải qua bao mùa hoa xuân và trăng thu mà lòng không ưu tư, chỉ biết chuyện vặn trục gảy đàn, mài mực luyện chữ; chứ đâu có biết cảnh phòng tối không đèn, nén hương bén lửa, xé gấm vò lụa? Vả lại, có ngờ đâu người không trở lại, nay ngoảnh đầu chỉ nghe văng vẳng có điệu hát nhỏ mà cũng chẳng nhớ được ngày về? Người ngồi trong kiệu, gió buốt trong tim, khổ nỗi nay không chốn dung thân, chỉ biết chất chồng u uất. Đi đến chốn cũ, trở về chốn cũ, rời xa chốn cũ, ngang qua chốn cũ, rồi thăm lại chốn cũ, khi kết thúc chuyện xưa, liệu có thực sự cởi bỏ được nút thắt trong lòng? Cây hoè giấu mộng, bóng lướt bên song, trăng nay trăng xưa, bạn cũ bạn mới, ngẫm chuyện đời xưa nay lại thấy nếu con người ta thực sự có thể bình tĩnh như khi chơi cờ, thì thế gian này lấy đâu ra lắm kẻ si tình và người đau khổ đến vậy? "Hôm qua em có oán ta không? Có còn trách ta không?" Quan Tiêu Thu nghe vậy lắc đầu, cười ngây ngô một cái, đáp: "Tiêu Thu không trách phu nhân, hôm qua vốn là lỗi tại Tiêu Thu. Bộ y phục đó vốn là phu nhân giao cho em đi làm, trách em nhất thời ham chơi giao lại cho Phù Trúc, lại còn dặn dò không rõ ràng, may mà không xảy ra sai sót gì, nếu không em có trăm thân cũng khó chuộc tội." Quan Vũ Mặc nhẹ nhàng nắm lấy tay cô nàng, lại ấn nhẹ lên đầu gối nàng, hỏi: "Còn đau không?" Quan Tiêu Thu lại lắc đầu, cười đáp: "Không đau, không đau mà, phu nhân vốn có bắt em quỳ lâu đâu, làm sao mà đau được?" Nói đến đây vốn vẫn đang cười, lời chưa dứt, lại bỗng buồn rầu, không khỏi cau mày đau lòng: "Hôm qua em nhất thời hứng chí, ngược lại đã làm liên lụy đến phu nhân. Phu nhân đến nhà họ Phương chưa đầy một ngày mà em đã kéo Lăng Kiều tự ý rời bỏ vị trí, nói dễ nghe một chút là Quan Tiêu Thu này không phải, nói khó nghe một chút là phu nhân không biết dạy bảo hạ nhân, lại còn để hạ nhân làm hư người nhà họ Phương. Em cũng là suy nghĩ không chu toàn, đều là lỗi của em cả. Đêm qua nằm ngẫm nghĩ kỹ, thấy thật có lỗi với phu nhân." Nói rồi lại thút thít khóc. Quan Vũ Mặc lấy khăn tay lau nước mắt cho nàng, nói: "Đừng nhắc chuyện cũ nữa, chỉ cần em nhớ kỹ là được, coi như ta không nhớ gì cả." Quan Tiêu Thu mắt ngấn lệ, nức nở: "Bao nhiêu năm nay phu nhân chưa từng nổi giận với em, hôm qua coi như là lần đầu tiên em thấy. Nếu không phải em hành sự không thỏa đáng làm phu nhân chịu ấm ức, phu nhân nhất định sẽ không như vậy. Vốn dĩ thân thể người đã không tốt, lại còn động can hỏa, còn chuốc lấy muộn phiền. Giờ nói đến nhà họ Phương này, bề ngoài thì là phu nhân gả sang đó, nói cho sang là làm phu nhân, nhưng thực ra có khác gì ăn nhờ ở đậu nhà người ta đâu? Phu nhân ở kinh thành chỉ cô độc một mình, không cha không mẹ không nơi nương tựa, nếu ngay cả nhà chồng cũng không thể cậy nhờ thì những ngày sau này biết sống làm sao? Đêm qua em càng nghĩ càng thấy buồn, nước mắt thấm ướt cả gối, sáng nay đem đi phơi còn thấy vết đây này, nghĩ đi nghĩ lại đều thấy là lỗi của mình." Quan Vũ Mặc để nàng dựa vào người mình mà khóc, nắm tay nàng thủ thỉ: "Ta nào có cô độc một mình, từ lúc bước ra khỏi cái viện Quan gia này, có ngày nào là em không ở bên cạnh ta, sao lại nói là lẻ loi? Hôm qua mắng em, trong lòng ta cũng chẳng dễ chịu gì, khoan hãy nói đến Lăng Kiều, ta vì Phù Trúc mà phạt em, em cũng là người nhà mình, ta cũng thấy áy náy, nhưng nếu ta không giúp Phù Trúc thì cô ấy lại rơi vào cảnh thân cô thế cô, không ai bảo vệ. Nhưng dù nói thế nào thì ta rốt cuộc cũng đã vì một người mới gặp chỉ vài ngày mà phạt em, cảm giác như bao nhiêu năm tình nghĩa của chúng ta đổ xuống sông xuống bể, ta cũng khó chịu vô cùng. Ta cũng nghĩ liệu em có oán ta, có trách ta, có vì thế mà xa lánh người tỷ tỷ này không, càng nghĩ càng..." Tiêu Thu dùng tay nhẹ nhàng che miệng nàng lại, nói: "Vậy thì đừng nghĩ nữa, Tiêu Thu chưa từng trách phu nhân, sau này cũng quyết không bao giờ trách phu nhân." Quan Vũ Mặc gật đầu, cũng nặn ra một nụ cười với nàng, thế rồi chuyện nhà chuyện cửa chuyện con gái mà hai người hàn huyên sau đó, thôi không cần kể chi tiết nữa. Kiệu dừng ở cửa chính. Cửa nhỏ, tường đá, dây leo phủ, hạ đến xanh tốt đông sang mới tàn, được bao quanh bởi những cành cây nét mực nhàn tản như thế, ấy chính là viện nhà họ Quan. Nay đã thay hình đổi dạng thành học đường, trên cửa treo một tấm biển, nét chữ đường hoàng nghiêm trang viết bốn chữ Quy Viên Học Đường, bút pháp già dặn, nét mực sắc sảo, cứng cáp mạnh mẽ, mang theo khí thế gió to sóng lớn ngoài biển khơi. Quan Vũ Mặc vừa xuống kiệu, nếu không phải có Tiêu Thu đỡ thì e là đã liêu xiêu ngã vào tường đá. Hải Thiên thấy vậy vội chạy lại hỏi han, Quan Vũ Mặc bảo không sao, không cần lo lắng, rồi chỉ là ngẩn ngơ nhìn tấm biển trên cửa lớn. Hai chữ Quy Viên này có nguồn gốc sâu xa, quy viên điền cư, tấm biển này vốn do Quan lão gia đích thân đề bút, lấy ý từ bài "Quy khứ lai hề từ" của Tĩnh Tiết tiên sinh. Biển ngày trước treo bên ngoài chính sảnh chứ không phải cửa chính, hôm bị tịch biên gia sản, cửa nát biển rơi, gãy vỡ làm đôi, nay tấm biển này có vết ghép nối, trong đó hai chữ Quy Viên chính là nửa tấm biển cũ, nửa còn lại được bổ sung hai chữ Học Đường. Cũng không biết hai chữ sau ấy là do ai viết, chỉ biết nét chữ cứng cáp nghiêm nghị, giống hệt như chữ của cha. Thấy bên ngoài có người đến, là một cô nương giơ tay nhấc chân đều toát lên vẻ bất phàm, bên người có cô a hoàn trông lanh lợi sáng sủa vô cùng, bên cạnh lại đỗ một cỗ kiệu, Lưu quản sự đoán có khách, vội vàng chạy ra chào hỏi: "Cô nương, chắc là trong nhà có trẻ nhỏ muốn đến học phải không?" Cô nương kia tuy gật đầu nhưng không ưng thuận cũng chẳng từ chối, chỉ bảo là đến xem thử. Lưu quản sự thấy vậy thì lòng nguội đi một nửa, đáp: "Vậy mời cô nương vào trong, mời vào trong, cứ xem tự nhiên, cứ xem tự nhiên, tôi còn chút việc ở phòng củi, nếu cô nương có việc gì cứ gọi một tiếng 'Lão Lưu' là được." Nói xong, quay lại đường cũ. Quan Vũ Mặc bước qua ngạch cửa, đo lường sân viện, so sánh xưa nay, thư phòng vẫn còn đó, chính sảnh đã sửa thành phòng học, cửa mở rộng hơn đôi chút. Chính phòng vốn có nay là nơi đọc sách viết chữ, còn tây sương khuê các ngày xưa, rèm Tương không còn, châu ngọc đã mất, nay là nơi ở của gia đình Lưu quản sự. Quan Vũ Mặc đứng bên ngoài tây sương, nói với Tiêu Thu: "Em xem, ngọn gió lùa qua nhà vẫn còn đó, những ngày hè, mấy lần phất qua án thư, lật tung giấy Tuyên, phải dùng mấy cái chặn giấy thật nặng mới giữ lại được." Nói rồi lại nhìn ra sân, bảo: "Em còn nhớ cái lồng bên ngoài bếp không, hồi em mới đến, ham chơi thành tính, lại thả con gà sống ra, kết quả là đuổi theo nó chạy khắp sân, đúng lúc cha đang tiếp khách ở sảnh, một màn ồn ào ấy đều thành chuyện cười." Quan Tiêu Thu cũng tức cảnh sinh tình, muốn khuyên nàng, nào ngờ mở miệng lại là một câu "Tiểu thư...". "Tiểu thư? Ta cũng chỉ là tiểu thư ở duy nhất nơi này mà thôi, cũng chỉ có thể làm một tiểu thư đàng hoàng ở duy nhất nơi đây mà thôi. Cha mẹ không còn nữa, ta còn là Quan gia tiểu thư cái nỗi gì? Mẹ mang bệnh nặng ta không hay, cha có nỗi khổ tâm ta không biết, chỉ biết an tâm yên bình ở đây làm một tiểu thư, không màng thế sự, không hiểu nhân tình, vô ưu vô lo trong chốn khuê phòng viết viết vẽ vẽ, lúc thì thêu cái khăn, lúc thì gảy khúc nhạc." Quan Tiêu Thu ở bên cạnh buồn rầu, gắng khuyên nhủ: "Lão gia... lão gia chỉ là không muốn tiểu thư đau lòng." "Ta biết cha mẹ thương ta, không muốn cho ta biết, nhưng ta quả thực là một chút cũng không hay biết gì, cho đến ngày nhà tan cửa nát, bỗng dưng như người say tỉnh rượu, chuyện cũ như giấc mộng tan biến vào hư vô. Nghĩ lại ngày trước ta an tâm qua ngày, không hề hay biết cha làm quan ở trong triều đã bị người ta bức hại chèn ép, tráng chí không thành đành lui về nhận một chức quan nhàn tản. Ta cũng đã không hay biết mẹ mỗi ngày đều đặn ba bát thuốc, không chịu nổi gió mưa sương giá. Năm xưa đọc bài 'Ức tích'[1] ta còn chưa hiểu lắm, nay đọc lại câu nào cũng thấy đau lòng. Thực là uổng công đọc sách, uổng công đọc sách, uổng cho công ta đọc trăm quyển sách mà vẫn mịt mờ không biết gì, an phận hưởng thụ, biến cố không hay, chẳng thấu sự đời, vậy có ích chi? Nay coi như là lời châm chọc ngấm ngầm của ông Trời mà thôi." Đoạn, khẽ giọng đọc rằng: "Năm xưa từng đến Ngũ Lăng, Nửa đêm ca hát, ánh trăng đầy lầu. Hàng cây đuốc sáng đêm thâu, Hoa đào móc đọng, ngờ đâu thu về. Vườn tây Vô Kỵ trẻ trung, Mạc Sầu người đẹp ở về phương nam. Loạn ly, đời giấc mộng khan, Nắng chiều, chỉ thấy nước tràn về đông..." [1] Ức Tích là bài thơ của Vi Trang, thời Đường, trong đó Vô Kỵ là con út của Chiêu Vương nước Nguỵ, Mạc Sầu là người con gái đẹp ở Nam Kinh, không phải là nhân vật trong tiểu thuyết Kim Dung. Nàng vừa đọc, vừa hướng về phía trước, e là sắp khóc đến nơi rồi, nắm chặt lấy tay Tiêu Thu, nói: "Tiêu Thu, ta ngu ngốc vô tri đến mức nào mới có thể yên tâm thoải mái mà chìm trong giấc mộng phù hoa của riêng mình như thế..." Quan Vũ Mặc hít sâu một hơi, ngẩng đầu nhìn lên, bốn bề là bầu trời. Gió hòa nắng ấm, như giấc mộng cũ, nhắm mắt tĩnh lặng có thể thấy đêm trăng ngày hoa vẫn lấp lánh, có thể nghe tiếng người xưa vẫn văng vẳng bên tai; và nào thì mưa chiều vỗ cành tỳ bà như những hạt châu hạt ngọc bắn tung tóe quanh sân. Ấy là cái thời gió sớm hiền hòa, đèn lay bóng vỡ, đêm về sương xuống mà chẳng thấy lạnh, thu đến nổi hứng nhặt bông cúc dệt thành chăn, đông sang tuyết phủ đầy bồn lại bảo là mỡ dê thượng hạng. Trong sảnh ngoài sân là một mảnh yên bình hưởng lạc, có tiếng gọi ta đọc sách, gọi ta làm thơ, gọi ta tập văn, gọi ta luận cổ phân kim bàn chuyện thiên hạ, vui như lần đầu trải kiếp sống làm người vậy. Nàng nhắm mắt, nghe tiếng đọc sách vang vang, bất giác nắm chặt cái khăn tay và ấn lên ngực, nói: "Cũng tốt, ngày sau hồn cha về lại chốn cũ, thấy được nơi đây đông đúc học trò, tiếng đọc sách cả ngày chẳng dứt, thế cũng được an ủi được phần nào." Lưu quản sự lại đi ra từ phòng củi, thấy hai người cũng đi dạo gần xong, bèn tiến lên hỏi: "Cô nương thấy học đường này thế nào?" Quan Vũ Mặc đáp: "Tôi thấy rất tốt, nhưng hôm nay người trong nhà chỉ phái tôi đến xem thôi, mình tôi không quyết định được, nhất thời chưa đưa được ý kiến." Lưu quản sự nghe ra trong lời ấy có ẩn tình, tuy là người làm ăn nhưng trả lời lại rất chất phác thật thà: "Cô nương không cần phải thấy khó xử, cứ đi xem thêm vài nhà khác cũng tốt, nếu thực sự quyết định rồi thì báo với tôi một tiếng là được. Thành đông rốt cuộc cũng hơi hẻo lánh, học đường cũng ít, nếu nhà cô nương ở gần đây thì dĩ nhiên tôi tự tiến cử nhà mình. Còn nếu cô nương không ở thành đông thì hẳn là nơi khác có vài học đường tốt hơn." Quan Vũ Mặc cảm tạ ý tốt của ông ta, nói: "Vậy tôi sẽ đi xem hết một lượt đã, hôm nay làm phiền ông rồi. Tôi đã nhiều năm rồi không về kinh thành, ngày trước chưa từng thấy ở đây có cái học đường này, có phải là mới mở gần đây không?" "Cũng không phải mới gần đây đâu, chúng tôi vốn ở hai con phố phía sau, ai ngờ đêm hôm bị hỏa hoạn, cháy sạch sành sanh, nhất thời không tìm được chỗ để chuyển đi. Chỗ này vốn là viện của nhà họ Quan, chính là Quan lão gia, đại Trạng nguyên tiền triều ấy, sau này nhà bị tịch biên, bỏ không cái viện, vốn bảo là phải dỡ bỏ nhưng sau may nhờ có một vị đại nhân ra tay giúp đỡ để giữ viện lại, rồi mới giao cái viện này cho chúng tôi. Người khác bảo đây là chỗ ở của phạm nhân, không cát tường lắm, nhưng chúng tôi là dân làm ăn, đến nhà còn chẳng có thì quan tâm gì mấy cái đó, tôi liền bảo là cát tường chứ sao mà không, Quan lão gia này còn là đại Trạng nguyên đấy, lấy nhà cũ của ông ấy làm học đường thì có lý nào không cát tường? Chẳng phải dạo trước nhà ông ấy đã được bình phản rửa oan rồi sao, ai nấy dù chưa từng quen biết nhưng cũng đều vui mừng khôn xiết." Quan Vũ Mặc hỏi tiếp: "Hóa ra là vậy, lúc trước cũng gọi là Quy Viên Học Đường hay sao?" Lưu quản sự đã rõ trong lòng, cười nói với nàng: "Tôi biết cô nương muốn hỏi gì, làm gì có cái lý học đường nào mà lại tên là Quy Viên? Mấy đứa trẻ đến ở đây đọc sách, học chữ, chẳng phải đều để sau này được vào triều làm quan hay sao? Nhưng sau này thì tôi cũng nghĩ thông rồi, cái Quy Viên này chính là tâm cảnh, ở đời đâu phải ai cũng làm quan được? Tất nhiên đạo lý này cũng chẳng phải tôi nghĩ ra, chỉ là sau này có nhiều người có học thức đến, nhìn cái tên này ai nấy đều khen hay, rồi họ nói cho tôi biết. Nói về cái tên cũ ấy à, tục lắm, gọi là Kim Khoa Học Đường, sau này chẳng phải là phải chuyển đi sao, biển cũ cũng bị cháy mất rồi. Vị đại nhân tôi kể lúc trước ấy đã giúp chúng tôi làm một tấm biển. Tấm biển hiện giờ treo trên kia, nửa trước là cũ, nghe nói là biển của Quan đại nhân ngày xưa, còn nửa sau là do đích thân vị đại nhân kia viết rồi bổ sung vào." Nói đoạn, ông lắc la lắc lư cái đầu, có vẻ rất đắc ý. "Ồ? Tôi nghe nói Quan lão gia thư pháp nhất tuyệt, không biết là nhân vật thế nào mà có thể học nét chữ giống đến như thế?" "Vị đại nhân ấy không nói cho tôi biết tên họ, tôi chỉ nghe người khác gọi ngài ấy là Phương đại nhân." —— Đi qua lầu khuê các cũ của Viện Quan Gia, Quan Vũ Mặc viết để lại cho hậu thế một bài thơ sau: Nửa tập thẻ tre, nửa cửa cài, Gối êm đâu biết lạnh đông dài. Hương đàn đùa bóng, mình ta đó, Cơm ngọc trâm vàng, phú một bài. Én xuân đâu biết màu phai nhạt, Ngậm bùn gõ cửa hỏi nhà ai? Người nơi vườn cũ điền viên ấy, Ngẫm chuyện xưa nay, lệ vắn dài. ——— Lâm Bình kết chương: Quan Vũ Mặc thăm lại chốn phù hoa năm xưa, tức cảnh sinh tình đã viết nên bài thơ này, vật đổi sao dời mà may vẫn còn giữ được đến nay. Tôi đọc thơ của nàng, ý hiểu như sau. Tay cầm nửa tập thẻ tre ung dung đọc sách, cửa hé mở vì trong nhà có lò sưởi ấm nên không sợ gió đông lùa vào mà lạnh. Trong khói đàn hương, đùa nghịch với cái bóng của mình dưới ánh đèn, ăn cơm ngon, đeo trâm vàng, làm thơ văn. Ấy chẳng phải là cuộc sống phú quý tựa mộng trong mười lăm năm đầu đời của nàng đó sao? Én năm xưa sống dưới mái hiên nay bay về, nhưng nó đâu biết nơi đây đã đổi chủ, cho nên vẫn ngậm bùn về xây tổ ở nơi cũ. Ấy cũng giống như con người vẫn cứ mãi vấn vương chốn cũ, không thoát ra được vậy. Bấy giờ một mình tôi lang thang ở trong toà viện cũ của nhà họ Quan năm xưa ấy, thu thập lại những áng thơ văn phủ bụi mà người xưa đã để lại, đặng chắp nối, kể lại cho hậu thế câu chuyện này, chợt tôi ngẫm lại chuyện xưa của họ mà bất giác nước mắt cũng đã thấm đẫm vạt áo tự bao giờ. —— Hết chương 13 ——
Bình luận