Chương 16: Một buổi chiều bình thường mà yên ả, vui cái niềm vui buổi thái bình
Có mới nới cũ vốn là thói thường tình ở chốn nhân gian, lòng đã là kẻ bạc tình, rũ bỏ dung nhan cũ, tô điểm dung nhan mới, sao lại không vui cho được? Chẳng thế mà từ sáng sớm Vương sư phụ đã bận rộn trong ngoài, lúc thì đón người, lúc thì trông coi vận chuyển, lúc thì dọn dẹp, chân tay chẳng lúc nào ngơi nghỉ. Vương sư phụ là người thật thà, mấy bộ bàn ghế tủ kệ nhắc mãi mấy hôm nay rốt cuộc cũng đến, ông vội vàng chạy tới lui quanh chúng, ngó trên ngó dưới, nhìn trái nhìn phải, xem trong xem ngoài không biết chán. Miệng thì lẩm bẩm khen "phẩm chất tốt, phẩm chất tốt", là đồ mới tinh đến bụi trần còn chưa kịp bám, tay thì đếm tiền, lòng dạ thỏa mãn vô cùng. Lại còn sai người thết đãi mấy người thợ khuân vác chút trà nước điểm tâm. Đợi tiễn người ta đi rồi, ông lại đi đi lại lại trong sân trong phòng mấy vòng, tâm trạng phấn khởi, cười tít cả mắt, nếp nhăn trên mặt cũng nhiều thêm vài đường so với mọi ngày. Khi bụi trần lắng xuống, Vương sư phụ ngắm nghía đã đời rồi gọi Tình Bình ra quét tước lại sàn nhà, lau chùi những chỗ cần lau, lúc xong việc lại ngó nghiêng khắp nơi, như đang kiểm kê thứ gì đó, thấy mọi sự đều ổn thỏa rồi mới đi bẩm báo với gia chủ. Phương Trí Viễn cùng Vương sư phụ bước vào phòng, nghe ông giới thiệu đây là loại gỗ gì, kia là hàng của tiệm nào; tốt hơn chỗ khác ở điểm nào, nàng nghe cũng chẳng để tâm lắm, chỉ đi một vòng quanh thư phòng, đưa tay sờ sờ chiếc bàn mới rồi lại bên chiếc bàn cao cạnh cửa sổ để ấn ấn thử, so so chiều cao, rồi nhìn giá sách mới từ trên xuống dưới, quay người lại gật đầu và thốt ra một chữ: "Ừm." Vương sư phụ theo Phương Trí Viễn đã lâu, biết chủ mình ít khi nói lời khen, không chê bai gì thì biết ấy đã là khen rồi, bèn đưa sổ sách cho nàng xem qua. Phương Trí Viễn cũng chẳng thấy có gì không ổn, rồi Vương sư phụ lại báo cáo sơ qua tình hình sổ sách mấy ngày nay, xong thì xin cáo lui. Quá trưa, Phương Trí Viễn nhìn thấy Quan Vũ Mặc cùng Quan Tiêu Thu đang ngồi dưới bóng cây, hình như đang chuyện trò việc trong nhà. Trong phủ này đã nhiều năm không có một cảnh tượng như thế, dưới tàng cây già xanh thẫm, những đốm nắng vỡ vụn rải đầy đất, và trong hơi thở thoang thoảng mùi cỏ cây là tiếng thủ thỉ của nữ nhi văng vẳng ở bên tai. Không biết trên chiếc quạt nhỏ ấy thêu lời từ của nhà ai mà cứ phe phẩy mãi không thôi. Cảnh ấy đã đẹp, lại còn thuận tay ngắt lấy nhụy hoa, oanh oanh yến yến, hồng hồng thúy thúy, hờn hờn vui vui, con gái nhà người ta đùa giỡn nô đùa, tay mềm eo thon, mắt hạnh đượm cười, yêu kiều hơn cả hoa. Mấy năm trước, Yên Hà và Tình Bình mới vào phủ cũng thường hay đùa giỡn ríu rít ở chốn này, nhưng khi ấy hai cô còn nhỏ, rốt cuộc vẫn chỉ là trò trẻ con. Sau, khi lớn hơn chút nữa, tính tình Tình Bình nội liễm trầm lắng, Yên Hà lại cực kỳ hiểu chuyện và sâu xa, thêm nữa trong nhà này cũng chẳng có cô thiếu nữ nào khác để cùng nàng cười đùa, nên cái không khí náo nhiệt trước kia cũng chẳng còn nữa. Nay chủ tớ hai người này đến đây, coi như cũng đã mang lại chút hương vị mới mẻ và sức sống cho tòa viện này. Nhìn thấy Vương Đại đang ngồi vót gỗ trong sân, thím Lăng thì ngồi trên ghế nhỏ phơi nấm, Tình Bình ngồi thêu thùa trước cửa tây sương; ấy là một buổi chiều bình thường mà yên ả, vui cái niềm vui của buổi thái bình. Phương Trí Viễn bước lại gần gốc cây, Quan Tiêu Thu thấy chàng đến, vội đứng dậy chào hỏi, Quan Vũ Mặc cũng định đứng lên nhưng chỉ thấy tay Phương Trí Viễn ra hiệu, nói: "Nàng cứ ngồi, không cần khách sáo với ta." Quan Vũ Mặc cười khẩy trong lòng, thấy lời này nghe sao mà lạ lùng, rốt cuộc là ai khách sáo với ai đây? Nghĩ đến chuyện mấy hôm trước, nàng nhất thời cảm thấy chẳng có gì để nói với người này nữa, bèn chán nản mà nhìn sang chỗ khác. Quan Tiêu Thu đứng ở một bên, vốn không phải người trầm tính, thấy không khí ngột ngạt quá, bèn hỏi: "Dạo này Phương đại nhân có khỏe không?" Phương Trí Viễn không biết phải trả lời câu "dạo này có khỏe không" này thế nào, liếc nhìn cô nàng một cái, thấy cô nàng mặc áo trắng váy hồng. Kể cũng lạ, chủ nhân thích mặc đồ xanh, a hoàn lại thích mặc đồ đỏ, nhưng nhìn thế nào cũng vẫn không thể nhầm lẫn được, nhìn một cái là lập tức biết được đâu là a hoàn, đâu là chủ nhân. Phương Trí Viễn nhìn kỹ chiếc quạt nhỏ trong tay nàng, "Tàn hồng xanh hạnh đó đây, trời xanh nước biếc vui vầy én xuân", hóa ra là bài Điệp Luyến Hoa, bảo sao nàng ta lại ra tay ngắt hoa như thế. Nghĩ đến đây không khỏi bật cười, nghĩ rằng e là chẳng ai biết giờ phút này, ở nơi đây, mình đang cười chuyện gì, chỉ có mình là hiểu cái khoái trá của thú thoả thuê ăn uống, cũng có nỗi bi ai của ai thất lạc cổ cầm. Phương Trí Viễn nhìn quanh bốn phía, buông một câu: "Vào hè rồi." Quan Tiêu Thu thấy chàng không trả lời mình, lại lẩm bẩm một mình, có chút không vui. Quan Vũ Mặc nhìn ra, bèn kéo nhẹ tay áo nàng, ra hiệu bảo nàng quản cái miệng xinh xắn lại, đừng có lúc nào cũng bày ra cái vẻ như ai làm gì phật ý mình như thế. Quan Vũ Mặc tùy lời đáp lại: "Vâng, trời dần nóng lên rồi." Nói xong cũng chẳng nhìn Phương Trí Viễn mà lại nhìn Vương Đại đang nghịch gỗ bằng một ánh mắt đầy hứng thú. Phương Trí Viễn thấy nàng lên tiếng, bèn quay người lại nhìn nàng một cái, thấy mái tóc dài tóc búi lỏng, nhàn tản mà không mất đi vẻ đoan trang, thanh đạm mà vẫn có vẻ yêu kiều, trong sự trầm tĩnh có nét an định, đôi mày ánh mắt như ngăn cách với hồng trần, dường như mọi vui buồn thế gian đã chẳng liên quan gì đến nàng, mà nàng cũng chỉ làm một khách xem thoát tục ngồi trước vở kịch hồng trần mà thôi. Nghĩ vậy, thấy nàng cũng giống hệt cái tên của nàng. Quan Vũ Mặc cảm nhận được ánh mắt của chàng bèn quay đầu nhìn, Phương Trí Viễn quả nhiên là lại hoảng hốt. Cũng nằm trong dự liệu mà thôi. Quan Vũ Mặc thấy thế thì thầm than trong lòng, lúc trước thấy chàng hoảng loạn đã không khỏi suy nghĩ lung tung, hôm nay mới thực sự biết rõ hẳn chỉ là do người này không giỏi chung đụng với nữ nhi mà thôi. Phương Trí Viễn rũ rũ tay áo, vội tìm chuyện để nói: "Sáng nay đồ đạc trong thư phòng đã được chuyển đến hết rồi, sau này nàng cũng có thể thường xuyên đến đó." Quan Vũ Mặc gật đầu. Phương Trí Viễn thấy nàng không có hứng thú gì lắm, lại không biết câu chuyện phải tiếp tục như thế nào, đi cũng không được, nói thì chẳng biết nói gì. May thay Quan Tiêu Thu hiểu chuyện, nói: "Phu nhân ngồi đây cũng lâu rồi, chi bằng đi lại một chút, tới thư phòng xem thử xem sao?" Quan Vũ Mặc liếc nhìn Quan Tiêu Thu, biết nàng có ý tốt, nhưng ý tốt này cũng chẳng giúp gì được cho mình, nghĩ đi nghĩ lại, rốt cuộc không đáp lời gì. Phương Trí Viễn đứng bên cạnh thấy ngượng ngùng vô cùng, vội nói: "Vậy ta đưa nàng đi xem nhé." Quan Vũ Mặc thấy người ta đã nói vậy rồi, bèn gật đầu, đi theo chàng. Quan Tiêu Thu vào phòng rót chén trà, rồi đứng canh ngoài cửa. Hai người đi một vòng trong thư phòng, cũng chẳng nói thêm gì nhiều, và Phương Trí Viễn nhất thời cũng không biết làm thế nào cho phải, chợt nhớ đến câu nói của Tiết Viễn Phủ rằng "Hai người đều là người đọc sách, nói chuyện thi từ ca phú cũng tốt", tức thì không khỏi thầm khen chàng ta mấy câu. Khen xong thì cũng làm theo lời ấy, mới lấy tờ giấy Tuyên rồi đặt lên chiếc bàn cao mới mua cho nàng, rồi lại lấy từ trong tủ nhỏ ra một bộ văn phòng tứ bảo mới tinh, nói: "Mấy thứ bút mực này thực ra đã đến từ mấy hôm trước rồi, chỉ là bàn chưa đến nên nhất thời ta chưa cho nàng xem. Lần trước ta đến Hàn Lâm viện, mấy vị lão tiên sinh cho ta mấy tờ giấy Tuyên loại cũ, rất quý, làm từ vỏ thanh đàn thượng hạng, nhẹ như cánh ve, trắng hơn bông tuyết." "Mỏng tựa lụa đào, rơi chẳng nghe tiếng." Phương Trí Viễn cười một tiếng, gật gù tán thưởng: "Nàng tiếp lời hay lắm, thế... có muốn thử bút không?" Quan Vũ Mặc nhận lời, bước đến trước bàn, đổ nước trong vào nghiên mực, tay cầm thỏi mực đen và đầu hơi cúi, nhẹ nhàng mài, từ tốn nói: "Thì cũng thử được, nhưng đã là thử bút thì đâu cần dùng đến loại giấy Tuyên thượng phẩm thế này?" Phương Trí Viễn nghĩ bụng nàng đã mài mực rồi, sao vẫn còn ý từ chối ta? Nay ta cũng đã trải giấy, chặn giấy xong cả rồi, há lại có lý rút ra rồi đổi tờ khác? Chắc hẳn là cơn nghiện văn chương đang tác quai tác quái, bút mực bày ra trước mắt e là nàng cũng chẳng quản được đôi tay, đã vậy thì sao không cứ thuận thế mà theo? Bèn nói: "Đồ vật dù có quý tới đâu thì rốt cuộc cũng chỉ là để dùng, ngày thường ta cũng không dùng đến loại tốt thế này, nhưng hôm nay riêng để nàng thử bút thì cũng là xứng đáng." Giấy tốt, mực tốt, bàn mới, có lý nào lại không vui? Chỉ là người trước mặt này không thông suốt, không nhìn ra mà thôi. Quan Vũ Mặc thấy bộ dáng chàng nghiêm trang, bỗng cũng không khỏi muốn trêu chọc chàng đôi chút: "Một cái bàn cao, nhỏ thế này mà đại nhân lại đưa cho thiếp giấy Tuyên thô, chẳng phải là đang thử thiếp đó sao?" Phương Trí Viễn quả thực không hiểu lắm sự phong thú và ý tứ trong đó, thành thật trả lời: "Không dám, thật không dám, nếu nàng thấy bàn nhỏ khó viết thì sang bàn lớn của ta viết cũng được mà." "Người đã biết thiếp thích đứng viết chữ, sao lại bảo đi dùng cái bàn lớn của người được chứ?" "Chuyện này..." Quan Vũ Mặc thấy mặt mũi chàng lúng túng, quả thực không nỡ diễn tiếp nữa, bèn cười nói: "Thiếp đùa với đại nhân thôi, cái khác không nói, chứ công phu viết chữ nhỏ mà lại còn viết nhanh ở trên giấy Tuyên thô thì thiếp vẫn là có, chỉ không ngay ngắn bằng viết chậm trên giấy Tuyên thường mà thôi." Phương Trí Viễn chỉ sợ lúc nãy làm nàng giận, nay nghe nàng bảo là nói đùa mới thở phào nhẹ nhõm, lập tức quên sạch mấy câu vừa rồi, nói: "Vậy thì mau mau khảo nghiệm công phu, viết chậm thì cũng thế thôi, ta là kém nhất khoản viết chậm, món ấy phải là người tâm tĩnh như nàng mới làm được." Quan Vũ Mặc nghe chàng khen mình, lại hoảng, mất hẳn vẻ ung dung lúc mới nói cười, một câu "Đại nhân quá khiêm tốn rồi" nói ra miệng mà nghe cung kính vô cùng, nói xong lại vội hỏi: "Người xem thiếp nên viết chữ gì cho phải?" Chắc hẳn cô nương tử giả mới gả về này, bấy giờ cũng đã nảy sinh cái tâm tam tòng tứ đức, cam tâm tình nguyện làm một kẻ phụ thuộc. "Đã là nàng thử bút thì đương nhiên là nàng tự quyết định." Phương Trí Viễn đáp đơn giản, cũng chỉ vì bản thân không nghĩ ra ý gì. Kỳ thực, nàng cũng không phải là không thích người khác hỏi mình nghĩ thế nào, muốn cái gì, nhưng chỉ cảm thấy chuyện viết cái gì là chuyện mà nàng nên tự làm chủ, thì hà tất phải hỏi mình. Tâm tư Phương Trí Viễn nói dễ hiểu thì cũng dễ hiểu, nói khó đoán thì cũng khó đoán, mà Quan gia tiểu thư tài trí hơn người, nay thua một ván cũng không biết bình phẩm thế nào. Lại thêm Phương Trí Viễn giao cho Quan Vũ Mặc tự quyết định, như thế cũng có chút tâm tư mong chờ, chẳng phải vừa rồi nghe nàng tiếp lời đối đáp cực nhanh đó sao, chẳng qua là muốn thử xem sự sâu xa nông cạn của tâm tư, xem xem từ tay nàng và từ tâm nàng thì có thể viết ra được những gì mà thôi. Quan Vũ Mặc vốn tưởng mình chỉ việc viết là xong, giờ nghe lời chàng nói thì thầm nghĩ không lười biếng được nữa rồi, viết chữ này cứ như là tỷ thí, chớ có thua ở đây thì mới tốt. Thua, thanh danh của bản thân là chuyện nhỏ, nhưng thanh danh của nhà họ Quan thì là chuyện lớn. Bèn suy nghĩ kỹ càng, viết xuống "Sở sứ Tử Hư sứ ư Tề", viết một mạch, xong liền gác bút. [1] Sứ giả nước Sở là Tử Hư đi sứ sang nước Tề. Phương Trí Viễn khom người đứng bên cạnh chăm chú xem, trong lòng rất vui mừng, nói: "Hóa ra là Tử Hư Phú. Hay!" Lại nói với nàng: "Nàng cũng thích phú sao?" "Thích phú hơn thơ." "So với từ thì sao?" "Thích thơ hơn từ." Phương Trí Viễn cười lớn một tiếng, nói: "Tốt quá, ta cũng thích thơ, không thích từ, suy cho cùng vẫn là vì không giỏi viết, và cũng thích phú nhiều hơn thơ. Nàng thích tác phẩm của ai nhất?" Quan Vũ Mặc đáp: "Vương Bột." "Ồ? Kỳ tài tử, văn chương Vương Bột thanh lệ trôi chảy, thiếu niên lão luyện, chỉ tiếc có đôi khi lòng cầu công danh quá nặng nên không tránh khỏi chút tục." "Dùng văn thơ để vào chốn quan trường, xưa nay vẫn thế, chẳng qua là tán dương hay ca tụng, và chiều theo sở thích người ta mà thôi. Mạnh Hạo Nhiên tuy tự là Hạo Nhiên nhưng chẳng phải cũng từng tặng thơ cho Trương Thừa tướng đó sao? Chỉ là một cách thức, sao gọi là tục hay không tục? Không biết đại nhân thích tác phẩm của ai nhất?" Tâm tư cô nương này thật khó dò khó lường, vừa nãy còn nghĩ thuận theo ý lang quân, hỏi lang quân cho chữ, giờ lại vì tài tử nhà khác mà cãi liến thoắng liền vài câu như thể sợ mình thua thì sẽ làm mòn đi cái tốt đẹp khác ở trong lòng. Phương Trí Viễn cũng không nhượng bộ, nói: "Phú có thể ngâm mà không thể hát, lối văn bài tỷ phô trương, từ ngữ hoa lệ, nếu nói là gần với thơ thì chi bằng nói là kế thừa dòng Sở từ, tỷ hứng không giảm mà ngược lại còn thêm mấy phần ý khí văn nhân, trúc trắc khó đọc." Dứt lời, nhìn Quan Vũ Mặc nói: "Người ta thích đó không thường viết phú, nhưng chỉ cần một bài là đủ rồi." Bên này cũng chẳng chịu thua, chỉ trong một câu, vài từ thôi, đã nâng cái mình thích lên, lại ngừng một chút, dẫn ra người mà mình thích. Đã lại là thử mình rồi, Quan Vũ Mặc có lý nào lại không đáp, trả lời: "Tô Tử." Phương Trí Viễn vui mừng ra mặt, nói: "Chính phải. Một bài Phú Xích Bích mà linh tú thoát tục, trác nhiên bất phàm, ta vẫn thường đọc lại, mỗi lần đọc lại thấy mới mẻ." Dứt lời, nhắm mắt tĩnh tâm một lát, như đang nhớ lại từng câu từng chữ, rồi mở mắt, hỏi: "Ta có thể thử giấy được không?" "Giấy là đại nhân cho thiếp, hà tất phải hỏi thiếp. Không biết đại nhân muốn viết gì?" "Đã nói với nàng rồi, nàng đã viết câu mở đầu của một bài phú thì ta chỉ còn có thể dùng Sở từ để so sánh thôi." Nói xong, viết "Đế Cao Dương chi miêu duệ hề"[2], hỏi: "Tiếp?" [2] Từ bài Ly Tao của Khuất Nguyên. Quan Vũ Mặc nhận lấy bút, viết "Trẫm hoàng khảo viết Bá Dung", cười nói: "Đại nhân dùng Ly Tao để thử thiếp, thật là chu đáo quá." "Tư Mã Tương Như là người xếp hàng đệ nhất về Hán phú, dĩ nhiên ta phải lấy Ly Tao của Khuất Tử để sánh cùng. Nàng còn có thể tiếp thể loại văn thơ nào khác không?" Quan Vũ Mặc cười một tiếng, đáp: "Sở từ đã ra, Vũ Mặc không biết lấy gì để so sánh, nhưng có thể so với một thứ gần gũi hơn, cũng coi như có chút họ hàng liên hệ, không tính là mất đi sự công chỉnh." Nói xong, viết "Đào chi yêu yêu". Phương Trí Viễn nói: "Tốt lắm, Kinh Thi tuy không thể dùng để so sánh nhưng chọn niên đại lại rất khéo. Nàng thích bài nào nhất? Có phải là Đào Yêu không?" "Vừa nãy thiếp cũng viết Tử Hư phú, sao đại nhân không bảo trong các bài phú thì thiếp thích nhất Tử Hư?" Phương Trí Viễn lắc đầu, bày tỏ ý mình: "Tử Hư quá nổi tiếng, Đào Yêu thì khác, Kinh Thi quá nhiều đầu thơ, nàng đã chọn riêng Đào Yêu thì ta nghĩ chắc là nàng đặc biệt yêu thích." "Trong Kinh Thi, thiếp thích nhất Kỳ Úc. Sở dĩ viết Đào Yêu, ấy là vì thiếp viết chữ 'Đào' đẹp mà thôi." "Lý do hay thật. Nàng đoán xem ta thích nhất bài nào?" "Thái Vi?" "Không phải." "Thức Vi?" "Không phải." "Kiêm Hà?" "Không phải." "Kích Cổ?" "Không phải." "Tử Khâm?" "Không phải." "Vũ Mặc không biết." Phương Trí Viễn cười lớn một tiếng, nói: "Ta đoán nàng cũng không nghĩ ra đâu, là Thạc Thử[3]. Ngày xưa, khi ta còn ở phủ Thân Châu, chốn ấy từng có nạn chuột, mỗi lần đọc Thạc Thử, ta đều cảm thấy như chính mình đã trải qua cảnh ấy vậy! 'Chuột to hỡi! Chuột to kia hỡi! Nếp ta, đừng ăn tới nghe mày. Ba năm biết thói lâu nay, Xót thương chẳng chịu đoái hoài đến ta! Lại còn có Tướng Thử[4], ta cũng rất thích. Thơ rằng: 'Chuột kia còn có tấm da Người không lễ nghĩa, có ra con người? Đã không lễ nghĩa thì thôi Sao không chết quách cho rồi, sống chi?' Nàng hãy thử nghe xem, mắng thật sướng miệng! Phong khí của nhân dân thời xưa chất phác đến cực điểm, hồn nhiên trung hậu không trau chuốt, ta thấy thật đáng yêu vô cùng. Kinh Thi đã ra, nếu muốn viết tiếp thì e là phải đến Bách Gia Chư Tử, Sơn Hải Kinh mất thôi." Nói đoạn, phất tay áo một cái, bảo: "Thôi! Không bàn chuyện sách vở thi thư nữa, nàng là quý nữ trong danh gia vọng tộc, chắc hẳn cũng rất am hiểu cầm kỳ thi hoạ có phải không?" [3] [4] Bài Thạc Thử (Chuột lớn) và bài Tướng Thử (Xem chuột), đều là bài trong Kinh Thi. Nói rồi, mời Quan Vũ Mặc ngồi xuống. Quan Vũ Mặc uống một ngụm trà, lắc đầu nói: "Cầm thì thuở nhỏ thường luyện, nhưng không có hứng thú lắm, sau đến Phủ Châu cũng bỏ bê hẳn rồi. Họa thì vẽ được đôi chút, nhưng cũng chẳng thành tựu gì. Còn về kỳ, biết, nhưng chỉ biết sơ sơ. Cầm kỳ thi họa, bốn món này, cũng chỉ có thi là thiếp còn kiên trì theo đuổi được, đại nhân thật sự quá đề cao thiếp rồi." Phương Trí Viễn không hiểu: "Tại sao kỳ mà chỉ biết sơ sơ? Nàng chưa từng được học sao?" "Nói ra thì rất dài dòng, hồi nhỏ, cha đã đặc biệt mời một thầy dạy cờ về dạy thiếp đánh cờ, nhưng mỗi một ngày chỉ được đánh một ván." Quan Vũ Mặc đặt chén trà xuống, vuốt lại tóc mai, nói chuyện với chàng, nhưng lại không dám nhìn chàng, như thể đang thả hồn để gợi lên chuyện cũ. "Tại sao lại thế?" "Cha dạy phải kìm hãm dục vọng, coi nhẹ thắng thua, khi đó thiếp còn nhỏ, chưa dưỡng được tâm tính, lúc mới học cờ sẽ khó tránh khỏi lòng háo thắng rồi muốn đánh thêm hết ván này tới ván khác." Phương Trí Viễn dường như rất có hứng thú với chuyện này, tiếp lời: "Lúc ta mới học cũng y như thế, rồi sau đó thế nào?" Quan Vũ Mặc lắc đầu, nhớ lại chuyện cũ thì không nhịn được cười, đáp: "Sau đó, nghiện cờ là cái nghiện khó bỏ, thiếp bèn rủ rê Tiêu Thu cải trang thành con trai, trèo tường nhà, trốn cha mẹ chạy ra phố đánh cờ với người ta." Phương Trí Viễn giật mình thót một cái, cao giọng hỏi: "Trèo tường trốn nhà ư?" Quan Vũ Mặc gật đầu, đáp: "Đúng vậy, kể ra cũng không sợ đại nhân chê cười." "Cũng không phải là chê cười nàng đâu! Hồi nhỏ ta cũng hay trèo tường, leo cây, nhưng nàng đường đường là thiên kim của phủ họ Quan, vậy mà lại rủ a hoàn cải trang trèo tường trốn nhà, nghe quả thực là có chút khó tin. Mà nàng bảo ra phố đánh cờ với người ta, phố mà nàng nói ấy là ở chốn chợ búa đó sao?" "Chính phải." Phương Trí Viễn quả thực kinh ngạc vô cùng, nghĩ thế nào cũng không nghĩ tới việc hồi nhỏ ngọc nữ chốn khuê phòng lại có tính cách như vậy, câm nín nhìn nàng một lúc rồi bèn nói với nàng: "Nhìn nàng bây giờ... thật khó đoán được năm xưa lại làm ra chuyện kinh thiên như thế. Rồi sau đó thì sao?" "Sau đó bị người nhà đi ngang nhìn thấy, bị cha lôi về nhà, quỳ mất mấy canh giờ, chép phạt không ít sách, thầy dạy cờ cũng bị cho nghỉ luôn, từ đó thì không bao giờ được đụng đến cờ nữa." "Tuy nàng làm thế là có liều lĩnh, nhưng cứ vì thế mà không cho nàng học cờ nữa thì cũng hơi quá đáng." Quan Vũ Mặc đáp: "Cha bảo nữ tử phải an phận thủ thường, tranh cường háo thắng như thế là hành vi không thỏa đáng, không chấp nhận được. Chao đảo giữa thắng và thua, khi ấy sóng gió sẽ nổi lên, khó tìm được sự an định, vậy chi bằng đừng học còn hơn." Phương Trí Viễn không hiểu, cảm thấy đạo lý nhân quả trong đó dường như sai sai ở đâu đó, lại sợ mình nghe không thông suốt, chưa nắm rõ thực hư, bèn hỏi lại cho chắc: "Quan đại nhân nói lời ấy cũng có chỗ không đúng. Nếu là ta phạt nàng, thì nhất định là phạt vì nàng đã không tuân thủ những quy tắc ta đặt ra, ấy mới là mục đích của hình phạt, chứ liên quan gì đến chuyện tranh cường háo thắng? Thế nào là nữ tử phải an phận thủ thường? Có lòng hiếu thắng thì có gì là không được?" "Cha nói phận là con gái sau này rồi cũng phải gả cho chồng, hầu chồng dạy con mới là thiên chức, sự hiếu thắng chỉ là vô dụng mà thôi, ngược lại còn làm hỏng việc." Quan Vũ Mặc vốn tưởng đây là đạo lý thường tình ở đời, không ngờ lại khiến Phương Trí Viễn nghe xong lại đập bàn một cái, nói: "Đạo lý quỷ quái gì thế, tại sao cha nàng lại mài mòn cá tính của nàng đi như vậy? Nàng vốn là thế nào thì cứ nên là thế ấy, nếu nàng vốn tranh cường háo thắng thì cứ đi mà tranh thắng, làm gì có cái lý ép mình phải an phận thủ thường? Tâm tính do trời sinh, mấy tuổi đầu thôi là đã biết được tâm tính rồi. Ta hỏi nàng, nàng đã thực sự buông bỏ được chưa? Thế này đi, nếu nàng đã thích, bắt đầu từ ngày mai ta sẽ dạy nàng đánh cờ." Quan Vũ Mặc đáp: "Không cần đâu, từ lâu thiếp đã không còn tâm tư muốn đánh cờ nữa rồi." "Cái gì?" Phương Trí Viễn vốn cũng là người tâm bình khí hòa, nay không biết sao lại vừa giận vừa hận, không nói nên lời. Nàng đi một mạch đến đây, bao nhiêu cay đắng tủi nhục đều ghi tạc hết trong lòng, đó là sức mạnh đẩy nàng tiến về phía trước, cũng là cách duy nhất để thân phận nữ nhi có thể đứng vững ở đất Nam Lương này. Nay con gái nhà họ Quan nói một câu như thế, dường như phủ nhận hết tất cả những điều mà nàng đã làm, nói cứ như thể nữ tử thì phải như vậy mới đúng. Đã thế, giờ mình cho nàng cơ hội để nàng sửa đổi, thế mà nàng lại từ chối, lại không cảm kích? Ấy là cái đạo lý gì? Phương Trí Viễn vẫn đang trong cơn giận, vốn dĩ cứ để qua một lúc là thôi, đằng nào Quan Vũ Mặc cũng chỉ là khách qua đường dưới một mái nhà, không cần thiết phải nói đạo lý với nàng, tỏ ra mình lo lắng. Nào ngờ tiểu thư Quan gia cũng là người cố chấp, người trong lòng là người trong lòng, đạo lý là đạo lý, ranh giới phân minh, huống chi nay trong lòng nàng đang có nghi hoặc, vừa khéo có thể dò xét nông sâu trong tâm tư của người kia, bèn nói tiếp: "Tu thân dưỡng tính là chuyện cả đời, chỉ cần làm được điều này thì đã là đủ rồi. Nay thiếp cũng không biết mình phải đi tranh giành cái gì, dẫu có tranh gì đi chăng nữa thì ít nhất cũng không phải là tranh thắng thua. Thứ gì chúng ta càng muốn có thì sẽ lại càng không có được, càng tranh giành thì đời lại càng thăng trầm, nhưng trong lòng mỗi người tự có tấm gương sáng, tự biết rõ ngọn ngành. Và nếu như đã biết rồi mà lại vẫn cầu vẫn tranh, rồi lại cầu mà không được, tranh mà không thắng, thì chẳng qua là tự chuốc thêm phiền não mà thôi. Điều hằng mong mỏi suy cho cùng cũng là vật ngoài thân, cờ, đối với thiếp cũng như vậy." "Nàng..." Phương Trí Viễn không biết phải nói gì, có lẽ vì không còn lời nào để nói, nên nhất thời cứ nghẹn ứ và đứng lặng. Bỗng nghe Quan Tiêu Thu ở bên ngoài thông báo: "Phu nhân, tiệm may lần trước hình như bị hết mất loại vải người muốn, muốn mời người đến xem lại ạ." Quan Vũ Mặc nhìn Phương Trí Viễn một cái, nghe chàng nói một câu "Nàng đi đi", vậy là bèn cùng Tiêu Thu rời đi. Quan Vũ Mặc nhìn Quan Tiêu Thu một cái, cười khổ một tiếng, Quan Tiêu Thu tự nhiên cũng ngầm hiểu. Hai người vừa ra khỏi viện, Quan Tiêu Thu liền nắm chặt lấy tay nàng, vừa lo vừa vội, nói: "Em nói này, phu nhân, người hà tất phải chọc giận ngài ấy như thế chứ?" Quan Vũ Mặc lắc đầu, cười khổ: "Ta cũng không biết nữa." ________ Chuyện xưa thật đúng như Tào Công[5] đã viết vậy: "Bao giờ hết, giọt lệ tương tư rơi đỏ ngòm, Bao giờ nở, xuân về hoa liễu trước lầu son, Nằm trằn trọc, song the, mưa gió buổi hoàng hôn. Nghĩ vẩn vơ, mối sầu mới cũ cùng đổ dồn! Nuốt không trôi, rượu vàng gạo ngọc nào biết ngon, Soi không rõ, đứng trước gương lăng mặt héo hon! Nét ngài cau cau lại, Giọt đồng hồ dồn dập hơn. Chao ôi! Nào khác gì: trôi đi, nước biếc dòng man mác, Dừng lại, non xanh bóng chập chờn." [5] Tào Tuyết Cần —— Hết chương 16 ——
Bình luận