Chương 30: Bao vần thơ hào sảng, bao chí lớn không thành
Chiều hôm sau ấy, Phương Trí Viễn sai người dâng sớ, dự định ngày mai lâm triều sẽ bàn đến chuyện tháo dỡ hỏa khí. Từ sớm, trước khi đi Phủ Châu, Hoàng thượng đã ưng thuận chuyện này, lần dâng tấu này chẳng qua cũng chỉ là mượn thánh dụ để đả thông Binh bộ, thiết nghĩ cũng chẳng phải chuyện khó khăn gì, việc quan trọng nhất trước mắt vẫn là việc mở quán giảng học và lập xưởng. Phương Trí Viễn cũng biết lời mình nói nhẹ tựa lông hồng nhưng cũng muốn chuẩn bị cho chu toàn, bèn chạy vạy khắp nơi, lo liệu đủ đường, bôn ba không ngớt. Mấy ngày nay Quan Vũ Mặc thấy chàng bận rộn trong ngoài, biết mình cũng chẳng giúp được gì, bèn cứ lặng lẽ ở bên cạnh chàng, bầu bạn trong sự an tĩnh, trà cạn thì châm chén mới, nghiên khô thì mài thêm mực, nếu chàng muốn nói chuyện thì đáp lại chàng vài câu. Ngoài ra, nàng chẳng làm được gì khác. Quan Vũ Mặc không hiểu chuyện triều chính, lời này quả thực không sai. Bởi nếu hiểu thì đã chẳng đến nỗi đến lúc này rồi mà Quan Vũ Mặc vẫn cứ đinh ninh rằng lần này có lẽ Phương Trí Viễn sẽ thành công. Cứ thế, mùa hạ qua đi. Mùa hạ qua đi, ấy cũng là khi thu sang. Những ngày tháng rụng rơi, cùng lá thu lìa cành. Một bức tấu chương mà lên chín tầng trời. Ngày mùng sáu tháng Chín năm Gia Hóa thứ mười lăm, hai mươi bốn vị quan viên do Phương Trí Viễn đứng đầu liên danh dâng sớ, tấu chương ấy tổng cộng hai ngàn năm trăm linh tám chữ, từng chữ từng câu đều xoay quanh việc giảng học và lập xưởng, suy xét lẽ thịnh suy của quốc gia, ngôn từ khẩn thiết, lý lẽ thấu tình, chấn động một thời. Tương truyền, có sĩ tử chép lại được một bản, chép xong mồ hôi đầm đìa áo, đọc qua mà khóc rống lên. Chiều xuống Phủ Châu, đường xa ngàn dặm. Ngày mùng bảy tháng Chín năm Gia Hóa thứ mười lăm, Phương Trí Viễn được bổ nhiệm làm Tuần phủ Phủ Châu, tức tốc lên đường đến Phủ Châu để chủ trì việc giảng học ở Tây quán. Đường đi gấp gáp, mưa gió trên lưng ngựa càng thêm phần tê buốt, bấy giờ trời đúng lúc thu lạnh. Chưa đến nơi mà đã ốm liệt giường những mười ngày. Vạn vật tất phải mục ruỗng từ bên trong rồi sâu mọt mới sinh sôi. Tức là, sự chết là kết quả của sự sống; đồng thời muốn có sự sống thì đầu tiên phải có sự chết đã. Thấy một chiếc lá rụng mà biết mùa thu về, sương lạnh giáng xuống sớm chẳng qua cũng chỉ là điềm báo được gửi đến bởi gã lính tốt tiên phong trước khi ngàn cây trút lá mà thôi. Trong đó không thiếu kẻ mải mê danh lợi, kẻ đau đáu vì nước, lo âu sức mọn một mình không làm nổi, ưu tư việc trí có tính cũng không thể thành. Đó là lực bất tòng tâm, trí lo chẳng đủ. Muốn dùng sức của một người, dùng cái thân xác bình phàm chẳng phải vàng cũng không phải đá để tranh cái tốt tươi nhất thời của cỏ cây, mưu cầu sự an trị cho thiên hạ, thay đổi được vạn việc của thế gian, liệu có được chăng? Thu đã đến rồi, lá đỏ đầy núi, gió hú vi vu, vạn vật tiêu điều. Đó là cái thế cục không tránh khỏi vậy. Ráng mây sáng ngời, máu nhuộm chân trời, xuất hiện bậc hào kiệt cái thế, coi thường tước vị vương hầu, đam mê chinh chiến sát phạt, đoạt lấy thiên hạ, thì rồi cũng chỉ giữ được thiên hạ trong trăm năm; thế mà lại quên mất cái gốc, buông tay áo mà nhởn nhơ chủ quan, kiêng kỵ bên trong coi thường bên ngoài, bấy giờ thì chỉ cần một ý niệm thôi là đủ để đánh mất thiên hạ. Khúc nhạc hay vốn do trời định, lại có cây đàn tốt phụ trợ, được ngày trời cao thăm thẳm không một bóng mây bèn hứng chí muốn gảy đàn đến mức máu nhuộm đầu ngón tay; ấy thế mà nay đàn bị đập nát, dây bị giật đứt, khắp triều đình trỗi lên những tiếng nhạc thô tục chói tai, khắp kinh thành một vẻ thê lương ảm đạm. Cũng như nay lông vũ bị vặt, cánh rộng bị bẻ, để cho chim đa đa cười nhạo chí lớn chim phượng hoàng, rặt chỉ tiếng ríu rít chê bai. Người khác chí hướng chỉ đành bi thương cho lề lối cũ chẳng còn, khóc ròng cho lệnh vua sáng ban chiều đổi. Than ôi! Đây là mệnh trời, nó cao muôn trượng, nó lớn vô cùng, không tranh giành với nó được. Kẻ nghịch mệnh trời trên đời quả thực không ít, nhưng nếu nơi mình chọn để gửi thân không phải bậc minh quân thì khó lắm thay, nếu trong hoàn cảnh ấy mà được thông thiên, há chẳng phải là hoang đường hay sao! Người bên cạnh đưa khăn cho ta để lau lệ, ta bảo, chốn này nên cười lớn chứ chớ nên khóc! Điện thời Tần, cung thời Hán, sự hưng phế thành bại của vật chất còn chẳng thể biết trước, chứ huống chi là số mệnh của con người! Phong lưu xưa nay đã chất biết bao nhiêu sầu, chẳng qua là hoa tàn xuân tận lá rụng thu sang, viếng cảnh xưa mà cảm khái chuyện đời, đau lòng vì biệt ly tri kỷ, tiếc nuối cho chí lớn không thành. Cái cảnh áo xanh lưu lạc bên bờ Ô Giang, chuyện này từ xưa đã có, chuyện này xưa nay vẫn vậy. Ngàn xưa đã chép biết bao nhiêu vần thơ hào sảng, viết đã cạn biết bao nhiêu chí lớn không thành. Hàn Dũ vừa xuất thế thì thế gian không ai vượt qua nổi. Như Hàn Dũ viết bài 'Bị giáng chức đi xa, đến ải Lam dặn lại cháu Tương': Sáng dâng tấu sớ trước thềm hoa Chiều biếm Triều Châu vạn dặm xa Thánh chúa những mong từ việc hại Bệnh thần nào dám tiếc thân già Mây che Tần Lĩnh nhà khôn thấy Tuyết phủ Lam Quan ngựa khó qua Cháu đến từ xa chừng có ý Sông này thu nhặt nắm xương ta." Sau, có kẻ hiếu kỳ ghi chép lại, nước mắt đẫm vạt áo, gió lạnh không ngừng thổi, lệ rơi trên giấy khô, âm thanh ấy thanh tao đến vô tận, sầu bi đến cùng cực. Nay, hậu thế chép lại, thành Phủ Châu Tiền Thoại. —— Hết hồi II —— Cắt nghĩa chương này: Công bộ Thị lang Phương Trí Viễn tư tưởng thân Phương Tây, có hoài bão canh tân, nhưng bị triều đình thủ cựu bỏ rơi, Hoàng đế Tô Vĩnh Lịch không tin tưởng nữa, nên kiếm cớ đẩy ra khỏi triều đình, bên ngoài là bổ nhiệm cho chức Tuần phủ Phủ Châu, thực tế là biếm chức, đày đi xa. Tới đây hết hồi II.
Bình luận