Chương 82: Họ xứng đáng được bên nhau cho tới khi bạc đầu
Mùa hạ năm Gia Hóa thứ hai mươi mốt, giảng đường nhỏ ở Phủ Châu đã bắt đầu thành hình, chỉ hiềm nỗi còn thiếu hai vị thầy dạy người Tây. Để kịp ngày hoàng đạo khai trương, hai người đành chia nhau đi hai ngả để ra khơi. Phương Sanh Mạn cố ý nhường chiếc thuyền lớn cho Quan Vũ Mặc, nào ngờ hôm ấy mây trời vần vũ, trong chớp mắt đã sóng gió ngập trời, chiếc thuyền cột buồm cao tựa như một phiến lá trà nhỏ nhoi giữa nồi nước sôi sục, chỉ trong khoảnh khắc đã chẳng còn tăm hơi. Quan Vũ Mặc nằm rạp trên boong tàu, được thuyền lớn của Kiều Bình Tây ngang qua cứu vớt. Nàng khẩn khoản cầu xin Kiều Bình Tây hãy dùng một chiếc thuyền con để đưa nàng về Phủ Châu, nhưng Kiều Bình Tây lại lấy cớ thân thể trải qua cơn sang chấn nên không thể đi xa, giữ nàng buộc phải ở lại trên thuyền để nghỉ ngơi vài ngày. Hôm ấy, sóng gió đã hơi lặng, phương xa trời vẫn âm u, loáng thoáng có thể thấy một hạm đội quân sự đang ào ào lướt tới. Quan Vũ Mặc vốn đã nghi hoặc từ lâu, nghe tiếng thuyền lớn càng lúc càng gần, vội bước lên gần mũi boong, giọng hỏi gấp: "Những chiến hạm kia là từ đâu tới?" Kiều Bình Tây cúi đầu, im lìm không đáp. Quan Vũ Mặc bước thêm một bước, truy hỏi, giữ lấy vai y: "Là hạm đội của quân Pháp, phải không? Có phải không?" Hai tay Kiều Bình Tây nắm chặt lan can, giấu thần sắc vào trong một mảng tối tăm mờ mịt, vẫn cứ không đáp lời. Từ sự im lặng ấy, Quan Vũ Mặc đã hiểu tất thảy, đau đớn đã qua đi nhiều năm nay đột nhiên thức tỉnh. Mấy năm nay, nàng chìm trong hạnh phúc, và cứ ngỡ mình đã sớm quên đi cái tư vị khoan tim đục xương ấy rồi. Quan Vũ Mặc chết lặng, đứng sững tại chỗ một hồi lâu, bàn tay run rẩy không kìm được mà khựng lại giữa không trung một chốc, rồi từ từ buông xuống bên người, hóa thành một câu hỏi khẽ khàng dành cho chính mình: "Giờ thì đi đâu nữa đây?" Dưới đám mây đen, đâu đâu cũng là bóng tối. Nàng đứng trong cái bóng rợp trời không sao thoát ra được ấy, nhìn Kiều Bình Tây, dùng âm thanh cực kì nhỏ nhẹ mà hỏi: "Là Phủ Châu phải không?" Dưới bầu trời mây thảm đạm, gió thốc lên tay áo thêu hoa văn cờ xanh của chàng thương nhân trẻ tuổi, đó là niềm kiêu hãnh của vinh quang gia tộc. Y chậm rãi quay đầu lại, đứng ngưng trệ ở đó, phong thái vẫn như ngọc như ngà ngày trước, mà nơi đôi mắt lại ẩn chứa sự tĩnh lặng đến rợn người, và môi mỏng mím chặt chẳng vương một nét cười. Quan Vũ Mặc bất chợt cảm thấy có một luồng khí lạnh buốt xương thấu tuỷ từ sống lưng xộc thẳng lên đỉnh đầu, nàng ngộ ra, kinh hãi và lảo đảo giật lùi lại hai bước. Lưng nàng tựa vào lan can, bỗng nhiên nhận ra mình dường như chẳng hiểu điều gì về người bạn thâm giao nhiều năm này. Kiều Bình Tây lớn lên trên biển, mang trong huyết quản một phần tư dòng máu Anh. Mắt y sâu, sống mũi y cao vút, vóc người cao lớn hơn người Lương, mà cử chỉ ung dung lại mang nét ôn văn nhã nhặn của người Hán; cho nên năm xưa, khi Quan Vũ Mặc mới gặp y ở bến đò, liền cảm thấy gần gũi hơn nhiều so với những người Tây tóc vàng mắt xanh. Nhưng mọi chuyện dường như chẳng phải thế. Người càng thân thiết đôi khi lại đi càng xa, xa đến mức chẳng khác gì người dưng nước lã. Kiều Bình Tây cũng giống như một con tàu, chẳng có nơi nào là bến cảng neo đậu. Quan Vũ Mặc từng tưởng rằng y có, nhưng có lẽ, đó là sự hiểu lầm ngay từ lúc bắt đầu. "Ngươi đã biết từ sớm rồi, có phải không? Kiều Bình Tây, nhưng ngươi vẫn là người nước Lương!" Y cúi đầu, trầm mặc một hồi, giọng nói trầm thấp mới vang lên: "Thiên hạ của người Lương đã đi đến hồi kết thật rồi, chẳng phải cô cũng là nạn nhân, cũng đã chịu tổn hại sâu sắc đó sao?" "..." "Cô và ta quen đã có một khoảng thời gian dài quen biết, ta không muốn để cô đi vào chỗ chết." "Đưa cho ta một chiếc thuyền con, để cho ta quay về." "Tại sao cô cứ nhất định phải quay về? Người cô yêu đã chết rồi, người ấy đã chết ở triều Lương rồi!" "Không, người ấy chưa chết, người ấy vẫn còn sống cùng với Phủ Châu." Và ta, ta sống cùng với người. ——— Phương Sanh Mạn đợi Quan Vũ Mặc ở Phủ Châu rất lâu, rất lâu, nhưng cái nàng đợi được thì lại là khói lửa chiến tranh và tin tức thuyền chìm. Hoa của nàng, và ấn quan của huynh trưởng, thảy đều chẳng còn gì nữa. Nếu như nàng chưa từng vứt bỏ mũ áo cân đai, nếu như huynh trưởng nàng vẫn còn tại thế, liệu kết cục của tất cả và số mệnh của quốc gia có thay đổi hay chăng? Nghĩ đến đây, nàng bật cười lên một tiếng đầy chua xót. Phương Sanh Mạn bị thế cuộc vùi dập hết lần này đến lần khác, từ lâu đã mất đi cái sức lực để khóc lóc van trời hay cật vấn số phận. Từ khi cái tên Phương Trí Viễn hóa thành một nấm đất vàng, sự hưng thịnh ngắn ngủi đã lùi về tiêu điều như nguyên trạng, những bức tường thành được xây đắp bắt đầu lung lay, từng viên gạch viên ngói cũng dần dần sụp đổ, chỉ trong nháy mắt đã hoang phế điêu tàn. Nàng khổ tâm trù liệu bao nhiêu năm, kiến thiết thì khó, mà không ngờ hủy hoại nó lại dễ dàng đến thế. Mùa hạ ở Phủ Châu trời xanh biển biếc, nhưng Phương Sanh Mạn lại nhìn thấy trong đó ngọn lửa hung tàn đã thiêu rụi cung A Phòng năm xưa. Sự mâu thuẫn giữa màu xanh thẫm và màu đỏ tươi, giữa lịch sử và hiện tại, chẳng phải chính là cái thế giới mà đôi mắt phàm tục của nàng nhìn không thấu đó sao? Đổng đại nhân bị tước quyền, thương nhân Định Châu chiếm đoạt nguồn hàng của Phủ Châu, theo đà giao thương ngày càng hưng thịnh ấy đâu chỉ có hàng hóa, mà còn cả thuốc phiện. Nhưng nàng chẳng còn quyền lực trong tay, giống như thân đang trên con thuyền mất lái, chẳng thể điều khiển Phủ Châu đi đến bất cứ nơi đâu, chỉ đành cam chịu số phận như cánh bèo trôi yếu ớt bất lực, mặc cho thế đạo mịt mù khói bụi cuốn đi. Nàng trơ mắt nhìn con thuyền lớn được gọi là quốc gia, trơ mắt nhìn thiên hạ mà nàng khát khao luôn thái bình, đang bị đục khoét với một tốc độ chậm rãi nhưng không thể nào ngăn cản và đảo ngược. Đợi đến ngày có kẻ vác pháo lửa đến và rung chuyển uy quyền của nó, bấy giờ mới phát hiện ra nền móng của quốc gia đã rỗng tuếch từ lâu, đâu cần dùng đến đạn dược để công phá? Chỉ cần gặp ánh sáng, là đã liền vỡ vụn thành một bãi mạt gỗ trên mặt biển. Dưới ánh mặt trời phổ độ chúng sinh, cảnh tượng ấy thế mà lại mang một vẻ đẹp khó thốt nên lời. Chiến hạm không đến thẳng Phủ Châu mà đổ bộ vào Thân Châu trước, rồi mới từ nội địa đánh vào Phủ Châu. Lúc này binh hoang mã loạn, bách tính tứ tán bôn đào, còn Phương Sanh Mạn thì ngày ngày bần thần ở bến cảng, hoảng hốt như thể quay trở lại hơn mười năm về trước, trở về những ngày tháng đợi tin cha và anh ở Thân Châu. Khi ấy, cô bé đã bao lần cầu khẩn và nguyện cầu, xin trời cao có thể đưa họ trở về. Nàng cứ cầu nguyện mãi, cho đến khi quân Nhật đánh tới, đập tan lời thỉnh cầu bé nhỏ và vô vọng nhất của một thiếu nữ, dùng từng lưỡi dao sắc nhọn để kề vào cổ và ép nàng phải rời đi. Số phận đã dùng đủ loại thuật pháp ly kỳ để thúc đẩy vòng luân hồi, lần trước là Thân Châu, lần này là Phủ Châu; lần trước là cha và anh, lần này là Quan Vũ Mặc; lần trước là quân Nhật, lần này là người Tây. Nhưng lần này, nàng quyết không thể đi. Từ lâu nàng đã chẳng còn tin vào chuyện cửu biệt trùng phùng trong thời chiến chinh loạn lạc. Thế giới rộng lớn nhường ấy, con người nhỏ bé biết bao, nếu không phải ước hẹn ở Phủ Châu thì nàng còn có thể gặp lại người ấy ở nơi nào nữa? Quan Vũ Mặc đi thuyền nhỏ để đến Phủ Châu. Nàng lao lên bờ, từ cái nhìn bao quát đầu tiên, đã lập tức trông thấy Phương Sanh Mạn. Bốn bề xung quanh đều là những người dắt già dìu trẻ vội vã chạy nạn, cứ lướt qua mắt tựa như những ảo ảnh cưỡi ngựa xem hoa; chỉ có một bóng hình đứng lặng ở đó, báo cho nàng biết phương hướng của nhà. Giữa biển người hỗn độn, cái nàng cần không phải là một ấm trà thơm dưới trăng thanh gió mát. Duy nhất nàng cần là người từng nói sẽ cho nàng tất cả, và người ấy, chẳng cần phải làm gì cả, chỉ cần đứng ở đó thôi cũng đã là tất cả của nàng rồi. Nước biển phản chiếu khói súng rợp trời, sự huỷ diệt kinh hoàng thỏa sức lan tràn khắp cõi, mang theo tàn lửa liếm láp từng sợi lông tơ. Cảnh vật trước mắt đảo lộn, mùi tanh nồng xộc lên mũi, sự chấn động đã cắt đi lưỡi của những kẻ không có quyền lên tiếng. Cầu xin vô dụng, nguyện cầu vô ích, mọi người đều không biết tương lai sẽ ở phương nào, thậm chí chẳng biết bước tiếp theo nên đi về đâu. Nhưng hai người họ biết, mỗi bước đi của mình lúc này đều là để đến gần hơn đối phương; và đối phương chính là tương lai, là chút ánh sáng le lói dường như cách biệt mấy đời nằm sâu trong vực thẳm bùn lầy dưới đám mây đen cuồn cuộn. Chỉ có đối phương mang theo sức mạnh xuyên phá tất cả, gạt đi khổ nạn của phàm thế mạt lộ và nỗi tuyệt vọng của tiếng khóc cùng đường, để áp sát vào ánh trăng ấm áp chỉ còn có ở trong tâm tưởng. Trong cơn bĩ cực, có người muốn chạy trốn giữ mạng, có người lại muốn nắm lấy bóng trăng hư vô mờ ảo. Hai người không bị chìm nghỉm trong đám đông, và càng không bị sóng người xô ngã. Thời đại cuốn theo dòng nước lũ cuồn cuộn không thể cưỡng lại đã khiến họ va đập biết bao lần, nhưng chưa một lần nào có thể thực sự chia cắt được hai người. Một sợi dây vô hình kéo hai người từng bước, từng bước, lại gần nhau. Khoảnh khắc đôi tay chạm vào nhau, họ chỉ nhìn đối phương, trong đáy mắt là thiên hạ thái bình đã vỡ nát, nhưng lại cũng là vùng trời yên biển lặng được đối phương thắp sáng lên. Súng đạn làm pháo nổ, màu máu làm lụa đỏ, tiếng thét kinh hãi làm tiếng chúc mừng, cả cái Phủ Châu này là lễ đường rực rỡ đầy mùi châm biếm nhuốm màu chiến hỏa. Trời hôm nay là bầu trời khói lửa cuộn trào, là bầu trời mà hai người các nàng không thể nào xoay chuyển và chống đỡ nổi. Đất này là mặt đất đầy rẫy vết thương, là mảnh đất sinh ra nàng, nuôi lớn nàng, rồi lại vứt bỏ nàng mà chẳng đoái hoài. Giây lát sau, đạn pháo bắn trúng cổng thành Phủ Châu. Vì mặt đất rung lên như trong cơn địa chấn, hai người cùng phải quỳ xuống bên nhau; lại vì nghiêng ngả mà đôi tay đan cài càng thêm chặt chẽ. Thành nghiêng vách đổ, bái tạ đất trời. Cuối thời Nam Lương, bốn biển hỗn loạn, thiên hạ phân ly, hùm sói cùng nổi dậy. Thiên tử đóng cửa giữ mình, thắp hương mà ngồi trên cao, vẫn an yên hưởng lạc, nào biết ngày tàn đã tận. Đến nỗi về sau vận nước điêu tàn, rót rượu bi ca, ba tiếng than Thử Ly, âu cũng là đường cùng của nhà họ Tô vậy. Phàm là biến số xưa nay, triều đại thay đổi, thường là hậu quả của trăm ngàn vết thương trí mạng không thể cứu chữa ngay được. Dẫu có anh hùng lương tài gõ sứt ống nhổ, không thành thế thì không thể chống lại, thành thế mà không kịp thì cũng không thể chống lại. Thường nói "Bệnh đến như núi đổ, bệnh đi như kéo tơ", thực là sức người trị, sao địch lại sự biến đổi của thế thời, sao chống được sự đứt gãy của thời đại. Thôi vậy! Ngửa mặt xem khí tượng đất trời, cúi đầu nhìn muôn vàn trần thế, phần nhiều là vội vã lại qua. Hãy xem trên đống hoang tàn phế tích kia, khai mở lại thuở hồng hoang, bờ cõi ngày sau sẽ là thiên hạ của nhà ai? Nữ tử họ Phương xuất thân từ mái tranh cửa lạnh, nữ tử họ Quan vốn dòng khuê các thư hương. Không môn đăng, chẳng hộ đối, vốn không nên cùng nhau gắn bó, hứa hẹn bạc đầu. Sau, nhờ cơ duyên xảo hợp, gặp gỡ lúc trời thu thanh bình, quen biết qua chút tình văn mặc, yêu nhau nơi sớm chiều dưới mái hiên, giữ đạo cho nhau giữa buổi mịt mù loạn thế, bấy giờ mới hay hai người họ xứng đáng được bên nhau cho tới khi bạc đầu nhất trần đời. Họ phiêu dạt đông tây mà chí vẫn định, trời không ánh nắng mà tâm vẫn sáng. Nay thiên hạ chao đảo trong cơn binh đao liên miên, khói lửa nào có can hệ gì đến tình sâu nghĩa nặng của hai người con gái ấy? Bao đời nay tài tử và giai nhân thường sinh ra trong thời loạn, hay cũng có thể nói thời loạn thường sinh ra tài tử và giai nhân. Đời sau có kẻ hiếu sự tình cờ tìm tòi và nghe đọc được chuyện này, bèn chấp bút tô vẽ, thêm mực một phen, đổi niên hiệu Gia Hóa thành Giai thoại, đồng thời cũng chính là Giả thoại.[1] [1] Gia Hoá, Giai thoại (chuyện đẹp) và Giả thoại (lời dối) đồng âm. Ý tứ đây là câu chuyện đẹp nhưng không thật, lấy lời chuyện giả để cảm thán thời cuộc và ám chỉ thời đại thật. Năm thứ hai mươi mốt, mùa thu, tháng Mười, quân Pháp đánh chiếm, Phủ Châu thất thủ, cổng thành đổ sập. Ghi chép trên đây là Phủ Châu Hậu Thoại. Đây là kết cục của lịch sử, là điểm cuối của triều Lương, tịnh không phải kết cục của hai người Phương, Quan. Phương, Quan bỏ lại cố hương, lên thuyền đi xa, về sau bạc đầu giai lão. Thời đại đau khổ, lòng người vẫn ấm. —— Chính văn hoàn —— Tới đây chính văn kết thúc, vẫn còn các chương sau làm rõ kết thúc và đàm thoại về tác phẩm của tác giả và nhà đài, rất đề cử đọc.
Bình luận